Hồi Ức Lớp CKNN-K3

Huỳnh Văn Tuấn    

Lời nói đầu

        Ghi chép lại các cuộc sinh hoạt cộng đồng là một nhu cầu rất cần thiết mà nếu để lâu sẽ phai dần trong ký ức của mỗi người. Hơn nữa, những người tham dự đều là những bạn học thời đại học, có nhiều ký ức đẹp đẽ lúc đi học và đồng cảm khi sinh hoạt chung. Những cuộc họp lớp giống như sinh hoạt tập thể trong đại gia đình người dân tộc Ê Đê, chân tình, bình đẳng, thông cảm và tràn đầy niềm vui. Đôi lúc có tranh luận nhưng nhìn chung đều hướng tới tình đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau.

Thời sinh viên mọi người bắt đầu vào tuổi trưởng thành, vào mùa xuân của cuộc sống, là lứa tuổi đẹp đẽ nhất, nhưng cũng dễ mắc sai lầm nhiều nhất từ chuyện yêu đương cho tới sinh hoạt tập thể, phát ngôn, uống rượu, vi phạm kỷ luật thậm chí đánh nhau. Đến bây giờ nhìn lại thì mới thấy những hành vi nông nỗi đó có thể thông cảm và hiểu được. Từ đó chúng ta có cách lắng nghe và hiểu được vì sao con cái chúng ta lại hành xử như vậy.

Việc giới thiệu về Trường Đại học Nông Lâm và Khoa Cơ khí nhằm mục đích để các cựu sinh viên đều có thể tự hào về chuyên ngành cũng như ngôi trường mình học thời thanh niên, dù số người làm việc đúng chuyên ngành sau khi ra trường không nhiều và ngày nay rất ít sinh viên muốn học chuyên ngành cơ khí nông nghiệp.

Vì vậy, dù khả năng tường thuật còn nhiều hạn chế, nhóm vẫn mạnh dạn viết hồi ức này để cho bản thân, gia đình và bạn bè có được một số thông tin có liên quan đến lớp cơ khí nông nghiệp khóa 3 để góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ của những cựu sinh viên trong lớp với nhau cũng như với bạn bè, những người có liên quan khác.

Để nội dung quyển hồi ức ngày càng thêm phong phú, nhóm biên tập rất mong mỗi cựu sinh viên lớp cơ khí nông nghiệp khóa 3 có một bài viết về lớp. Bài viết nào xuất sắc sẽ được khen thưởng. Rất mong nhận được sự hợp tác của các anh em bạn bè trong lớp.           

                         Nhóm biên tập

Phần 1

Họp lớp kết hợp tham quan du lịch

Năm 2010, một số anh em trong lớp Cơ khí nông nghiệp khóa 3 rủ nhau lên Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc tham quan du lịch kết hợp sinh hoạt lớp định kỳ. Đoàn gồm các anh, chị như sau:

–        (1) Anh Nguyễn Văn Cò – công tác tại Trường Trung học Cơ sở Nguyễn An Khương, Hóc Môn;

–        (2) Anh Huỳnh Văn Tuấn –  công tác tại Trường Cao đẳng GTVT Tp.HCM và  vợ Nguyễn Thị Huệ;

–        (3) Anh Ngô Thành Thuần – công tác tại Công ty Cổ phần Xây dựng Bạch Đằng 4;

–        (4) Anh Nguyễn Thái Bình – công tác tại Công ty Bao bì;

–        (5) Chị Võ Thị Kim Phượng – công tác tại PVCĐNN&CNSTH;

–        (6) Anh Trần Phương Nam – công tác tại Công ty Dệt Thành Công;

–        (7) Anh Nguyễn Đặng Thắm – làm việc tư nhân;

–        (8) Anh Đoàn Văn Sang – công tác tại Công ty Cơ khí;

–        (9) Anh Nguyễn Văn Sơn – làm việc tư nhân;

–        (10) Anh Trần Hưng Nghĩa – làm việc tư nhân;

–        (11) Anh Nguyễn Văn Lanh – làm việc tư nhân;

–        (12) Anh Bùi Quang Trung– công tác tại Công ty Dịch vụ Khí thuộc PVGas VN.

–        Đoàn được Công ty Mai Linh chịu trách nhiệm đưa đi tham quan-du lịch Đắk Nông – Đắc Lắc.

Trong số 12 cựu sinh viên lớp Cơ khí khóa 3 kể trên hầu như đều công tác và cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ riêng 3 người cư trú tại các tỉnh là anh Hưng Nghĩa cư ngụ tại thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp; anh Quang Trung cư ngụ tại thành phố Vũng Tàu; anh Văn Lanh cư ngụ tại xã Vĩnh Bình, H. Vĩnh Hưng, Long An, địa phương này sát với biên giới Campuchia, là nơi vào năm 79-80 lớp đã đi thực tập lái máy kéo.

Đoàn khởi hành lúc 20h30 ngày thứ sáu 05/11/2010 từ Quận 3, TP.HCM theo hướng Quốc lộ 13 đi về Bình Dương rồi theo tỉnh lộ 741 đi Đồng Xoài, Bình Phước, hướng Quốc lộ 14 đi Đắk Nông, Đắk Lắk. Đến thành phố Buôn Ma Thuột lúc 6h30 sáng thứ bảy ngày 06/11/2010. Trước năm 1994-95, muốn đi Buôn Ma Thuột, du khách phải đi vòng lên Quốc lộ 1A ra Nha Trang (cự ly 440 km) mất 1 ngày, ngũ đêm tại Nha Trang đến hôm

sau mới đón xe đi Buôn Ma Thuột (cự ly 200 km), còn từ sau năm 1995 đến nay đi theo lộ trình của Đoàn chúng tôi, thời gian đi chỉ mất từ 7-9h (cự ly 350 km), nếu đi đêm bằng xe giường nằm thì không bị ảnh hưởng gì đến thời gian làm việc ban ngày, do chỉ cần lên xe ngủ qua đêm, sáng là đến nơi.

Huệ – Cò và Phượng đang uống café tại kỳ họp lớp 2010, Buôn Ma Thuột

Thuần (phải)– Điển (xem báo) – Nhựt tại kỳ họp lớp 2010, Buôn Ma Thuột

Tại thành phố Buôn Ma Thuột có 3 cựu sinh viên của lớp hiện đang công tác và định cư tại đây từ lúc tốt nghiệp ra trường năm 1983 bao gồm:

–        (1) Anh Trần Văn Định; công tác tại Công ty Café Việt Thắng, Đắk Lắk.

–        (2) Anh Thái Văn Nhựt; công tác tại Công ty Café Việt Đức, Đắk Lắk.

–        (3) Anh Nguyễn Hữu Lợi, công tác tại Công ty CP thi công cơ giới Đồng Tâm, Đắk Lắk.

Bên cạnh đó còn có 3 người tự dùng các phương tiện riêng đi đến Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk gồm có:

–        (1) Anh Trần Quốc Mạnh – công tác tại Công ty Cổ phần SADACO, cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh;

–        (2) Anh Nguyễn Khéo – làm việc tư nhân, cư ngụ tại Ninh Thuận;

–        (3) Anh Phan Tá Điển – công tác tại Trung tâm Đăng kiểm PTCG Đà Nẵng, cư ngụ tại Thành phố Đà Nẵng, đi máy bay vào Buôn Ma Thuột họp lớp.

Như vậy năm 2010, nhóm cựu sinh viên Cơ khí khóa 3 họp lớp tại Buôn Ma Thuột có tất cả 18 người từ nhiều tỉnh thành miền Nam và miền Trung về Đắk Lắk họp lớp kết hợp tham quan du lịch miền đất trên cao: Tây Nguyên.

Vài dòng về lớp cơ khí nông nghiệp khóa 3 và các cuộc họp lớp

Định, Tuấn, Phượng, Ánh tại kỳ họp lớp năm 2007, Sài Gòn

Lớp Cơ khí khóa 3 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 1977-1982 lúc đầu có 72 sinh viên, sau 5 năm học tập số tốt nghiệp còn khoảng 50 sinh viên, một

số khoảng gần 20 người ra nước ngoài định cư, một số bỏ học vì nhiều lý do khác nhau. Số tốt nghiệp được phân công công tác rãi rác đi khắp các tỉnh, thành hầu hết là Phía Nam, chỉ riêng anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1950, sau khi tốt nghiệp trở về quê nhà tại phía Bắc, tỉnh Phú Thọ, khoảng năm 2007 anh Giang có vào thành phố Hồ Chí Minh thăm các bạn học cũ vào dịp họp lớp trong năm này.

Đông già, Thắm, Thuần, Tuấn, Long, Định tại kỳ họp lớp 2007, Sài Gòn.

Do theo chuyên ngành cơ khí nông nghiệp nên sinh viên sau khi tốt nghiệp phải công tác tại các nông trang, nông trường, trạm cơ khí nông lâm…ít người được phân công về thành phố, do vậy công tác tập trung cựu sinh viên để họp lớp không dễ dàng thực hiện được, do có nhiều trở ngại như: mọi người ở rải rác, trong thập niên 1980 việc đi lại cũng như điều kiện kinh tế khá khó khăn và eo hẹp.

Mãi đến năm 2003, một cựu sinh viên trong lớp là anh Văn Đông, sang định cư tại Úc những năm 1980, về nước du lịch và có ý định gặp gỡ với các bạn học cũ trong lớp, đã nhóm họp lớp đầu tiên tại văn phòng Công ty SADACO của anh Quốc Mạnh số 200 Lý Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, buổi họp đầu tiên sau hơn 20 năm xa cách nhau này có khoảng trên 20 người trong lớp tham dự.

Từ đó hàng năm lớp đều tiến hành họp, số tham dự có khoảng từ 15-25 người. Sau nhiều năm họp tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng cần thay đổi nơi họp cũng như không khí sinh hoạt, nên năm 2010 lớp đã tiến hành họp tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, sau khi năm 2008 đã không thực hiện được kế hoạch họp lớp tại đây do số người đăng ký tham gia quá ít (chỉ có 6 người đăng ký tham gia).

Đứng: Mạnh già – Khéo – Lợi (xa)   Ngồi: Định – Thắm – Nam (quay mặt) –  Sang –  Sơn – Nghĩa, 2010

Theo kế hoạch họp lớp năm nay (kế hoạch được xây dựng trước đó khoảng 2 tháng), các cựu sinh viên lớp cơ khí khóa 3 đăng ký dự họp tại Buôn Ma Thuột ngoài số chính thức tham dự còn có anh Phan Hồng Công, cư ngụ tại Tây Ninh đăng ký đi nhưng đến phút cuối báo không tham dự được vì bận việc gia đình) , anh Phùng Văn Năng cũng không tham dự được vì bị bệnh tim mạch đột xuất! còn anh Lê Văn Bạn (sinh viên tốt nghiệp được giữ lại Trường làm giảng viên cho đến nay), một thành viên khá tích cực đã dự cuộc họp trong ban tổ chức nhưng đến phút cuối có người thân vừa mất nên không thể tham dự được.

Ngoài ra theo dự kiến thì còn có anh Trần Thiên ở Phú Yên và anh Nguyễn Tổng ở Bình Định tham dự họp lớp nhưng do lũ lụt miền Trung khá nặng nề các anh lo phòng chống bão lụt nên không dự họp được. Trong lớp cũng có một số thành viên được thông báo nhưng không thể dự họp được như chị Tăng Nguyệt Ánh, anh Lê Thành Của, anh Văn Đức Long, anh Huỳnh Tấn Trường, anh Nguyễn Huy Tiến, anh Nguyễn Hoàng Tuấn, anh Đỗ Xuân Bình (ngày 25/04/2011 Thuần và Tuấn có đi thăm anh Bình tại Bệnh viện Đại học Y Dược, anh mắc bệnh nhồi máu cơ tim đang chờ phẩu thuật gắn Stent), anh Trần Văn Vân, anh Trần Văn Hào, anh Nguyễn Như Hùng, anh Nguyễn Trường Sinh, anh Tạ Quang Sinh, anh Nguyễn Đức Hòa.

Thắm, Định, Sinh già, Trung, Mạnh già, Đông già, Lợi, Nam, Lanh, Thuần, và Cò tại kỳ họp lớp ngày 12/08/2006, Sài Gòn.

Cũng có một số người lớp không nhận được bất cứ thông tin nào hoặc thỉnh thoảng có  tin nhưng khó liên lạc như anh Nguyễn Văn Giang (1958) gia đình trước cư trú tại Hóc Môn sau chuyển về Tân Châu-Tây Ninh (ngày 05/06/2011 Tuấn có đến Tân Châu tìm và gặp anh Giang), anh Đặng Quốc Đức cư trú tại TP. Hồ Chí Minh, anh Ngô Hữu Thăng cư trú tại Tuy Hòa, Phú Yên (năm 2009 Tuấn có đến thăm nhà anh nhân chuyến công tác tại Tuy Hòa), anh Trần Văn Hiến, anh Mậu Khôi, anh Nguyễn Văn Học, anh Hạnh Phúc, anh Văn Cừ, anh Phước Thọ, anh Trọng Bình, anh Nguyễn Phúc Viễn Cường (công tác tại Sở LĐ-TB-XH), anh Thanh không có tin nào.

Thiên đang say sưa kể chuyện tại kỳ họp lớp năm 2007, Sài Gòn 

Đặc biệt trong giai đoạn có họp lớp này, ngoài anh Nguyễn Văn Đông là thành viên tích cực (các năm trước mặc dù định cư tại Úc nhưng anh Đông thường xuyên về nước làm ăn và tham dự họp lớp khá đều, năm nay anh Đông bận công việc bên Úc nên không về dự họp được), anh Nguyễn Đức Tri Nhân mặc dù ở Úc nhưng cũng thỉnh thoảng về nước giải quyết việc riêng và tham dự họp lớp, anh Lê Tường Phát (ở Mỹ) thỉnh thoảng cũng có về nước nhưng không đúng vào dịp họp lớp. Số cựu sinh viên định cư ở nước ngoài còn lại không có nhiều thông tin cho lớp như anh Trần Văn Chất (ở Canada), anh Lâm Võ Liệt Sỹ (ở Pháp), anh Hứa Khắc Dũng, anh Tô Văn (ở Mỹ), anh Hồ Sỹ Huỳnh (ở Úc), anh Nguyễn Anh Minh (ở Úc), anh Lê Minh Sơn (ở Úc), anh Nguyễn Tăng Phúc (ở Đức), anh Nguyễn Minh lai Pháp, anh Trương Quang Tuyến (ở Mỹ), chị Trần Thị Ngọc Đào (ở Úc), chị Nguyễn Thị Liên Chi (ở Mỹ), chị Âu Thị Tiên (nghe Phượng nói đang ở Sóc Trăng), anh Nguyễn Chấn Hưng, anh Hồ Doãn Mạnh.

Tiến, Nam, Thắm, Năng và Bạn  tại kỳ họp lớp 2006, Sài Gòn 

Riêng trường hợp Đặng Anh Tuấn trước đây không có thông tin, nhưng qua cuộc họp Khoa Cơ khí được biết anh Tuấn đang công tác tại một công ty chứng khoán tại Huế (Trung có đến thăm năm 2010 và anh Tuấn đã tham dự họp lớp năm 2011). Bên cạnh đó còn có một số anh khóa trước cùng về học với khóa 3 là anh Thế, anh Việt, anh Khánh, anh Nhã,…

Phượng, Mạnh già, Cô Thanh (Trưởng Khoa), Bạn, Tuấn và Sinh già tại cuộc họp Khoa kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường, 2010

Kể từ ngày ra trường còn có một số cựu sinh viên do bạo bệnh hoặc tai nạn nên mất sớm như anh Phạm Minh Chính (bị bệnh, mất thập niên 80 tại TP.HCM), anh Nguyễn Văn Sơn (sinh 1960, bị tai nạn nghề nghiệp mất thập niên 80 tại Biên Hòa), anh Hà Minh Nghĩa (bị tai nạn giao thông, mất thập niên 90 tại Nha Trang), anh Nguyễn Thế Minh (bị bệnh, mất cách nay 9, 10 năm tại Biên Hòa). Bên cạnh đó, anh Nguyễn Văn Công mất năm 78 do điện giật tại ký túc xá lúc còn đang học dỡ dang năm thứ hai.

Thuần, Phượng và Sơn tại kỳ họp lớp năm 2006, Sài Gòn

Những xa cách và mất mát đó gây bao nỗi niềm thương nhớ làm xao lòng bạn bè cũng như người thân của các anh! 

Càng thấm thía hơn những trăn trở của Nguyễn Du mấy trăm năm trước:

“…Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,                                                                                                                                                   

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng 

Trong chuyến tham quan Buôn Ma Thuột, giữa đại ngàn cao nguyên lộng gió, đâu đó văng vẳng những lời ca da diết, 

Ê… những con đường đất đỏ lượn vòng trên cao nguyên những năm dài thương nhớ, những phút giờ vinh quang…

                                                         Giang già, Sang, Đông già, Thắm,  và Trung đang hát Karaoké vui vẻ sau   khi tham dự liên hoan hào 

Bình, Nghĩa, Khéo, Phượng, Cò, Thuần, Sang, Nam, Thắm, Nhựt, Định, Lợi và Lanh mới vừa đến tại sân đỗ xe khách sạn Hai Bà Trưng, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk.  Ảnh chụp lúc 7 giờ sáng ngày 06/11/2010, phía sau là xe của Công ty Mai Linh chở đoàn.

Cùng với tiếng cồng chiêng rộn rã quanh ngọn lửa hồng mà mọi người có thể hình dung được, làm cho cuộc họp lớp tại Tây Nguyên vừa đầm ấm, vừa vui sướng, vừa sâu lắng.

Phần 2

Vài dòng về các kỳ họp gần đây: năm 2003, 2006, 2007,  2010,  2011 và 2012

Kỳ họp đầu tiên năm 2003

Đây là kỳ họp lớp đầu tiên vào khoảng cuối năm 2003. Sau khi có thông tin về cuộc họp các thành viên tập trung tại văn phòng Công ty SADACO của anh Quốc Mạnh rồi đi xe ra khu Du lịch Bình Quới, Thanh Đa họp mặt. Có 22 thành viên trong lớp và 01 bạn gái của Công tham dự tại kỳ họp đầu tiên này.

Mạnh già (đứng), Đông già, Phượng, Của, Xuân Bình và Khánh đang tập trung dùng trà tại văn phòng SADACO chờ cho đông đủ cả đoàn đi ra Bình Quới, Thanh Đa.

                                           Cả nhóm đang tập trung trước văn phòng Công ty SADACO chờ đi ra Bình Quới, Thanh Đa.

Năng, Sinh già, Định, Nhựt (đứng), Vân, và Bạn đang liên hoan tại Nhà hàng Bình Quới, Thanh Đa.

Hàng đứng: Lanh, Vân, Khánh, Định, Sinh già, Xuân Bình, Phượng, Nam, Nhựt, Của, Điển, Thái Bình, bạn gái Công, Đông già và Mạnh già.

Hàng ngồi: Năng, Bạn, Cò, Thắm, Hưng Nghĩa và Lợi.

Trung là người chụp ảnh lưu niệm tại nhà hàng Bình Quới, Thanh Đa năm 2003

Kỳ họp năm 2006

Trong năm này lớp có 2 cuộc họp: kỳ họp đầu vào ngày 12 tháng 08 năm 2006. Tham dự họp có 14 cựu sinh viên trong lớp (ảnh) như sau:

Thắm (1), Định (2), Sinh già (3), Trung (4), Mạnh già (5), Đông già (6), Lợi (7), Nam (8), Lanh (9), Thuần (10), và Cò (11) tại cuộc họp lớp đợt tháng 08 năm 2006, Sài Gòn. Trong ảnh là 11 người đến họp đầu giờ lúc 16 giờ 30

Sau đó Long (12) có đến sau. Trong ảnh, Long đang ngồi chung với Cò và Lanh. Ảnh chụp lúc 19 giờ, mọi người đã dùng kha khá nhưng thức ăn và bia vẫn còn đầy bàn.

Bình (13) cũng có tham dự kỳ họp ngày 12 tháng 08 năm 2006 này. Trong ảnh Bình, Đông già, Thắm (đang uống cạn ly), Định, Nam và  Cò đang tranh luận. Người đang rót bia là anh Mạnh già (bị che khuất, chỉ thấy bàn tay cầm rót). Ảnh chụp lúc 19 giờ 30, Thắm uống cạn ly do đá bổng với ai đó, có thể là Định. 

Tuấn (14) đến sau cùng, đang cùng anh Thuần và Đông già tranh luận sau sưa, vui vẻ, Thắm đang nghe có vẻ rất hứng thú. Ảnh chụp lúc 20 giờ 10, sau khi dùng bia xong là đến lúc tranh cãi hào hứng.


Mạnh già đang đóng vai trò chủ xị phân phối bia cho các thành viên trong bàn tiệc, trong khi Đông già đang trò chuyện cao hứng với một thành viên nào đó trong bàn. 

Kỳ họp thứ hai trong năm này vào ngày 24 tháng 12 năm 2006, ngay ngày lễ Giáng sinh. Số người tham dự cuộc họp này cũng không nhiều (14 người) do trùng với lễ Noel:

Tiến (1), Nam (2, bị che khuất), Thắm (3), Năng (4, đang say sưa diễn thuyết với  Tiến), và Bạn (5, đang chăm chú nghe Năng nói) tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006, Sài Gòn. Ảnh chụp lúc 14 giờ 15. Sau khi liên hoan xong, mọi người đang đứng  chờ trong sân Công ty SADACO chuẩn bị đi temp 2 hát Karaoke

Thuần (6, đang tự xem bói), Phượng (7) và Sơn (8) tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006. Ảnh chụp lúc 11 giờ 13, mọi người đang ngồi chờ nhau tại Công ty SADACO cho đông đủ để đi sang Nhà hàng Như Ý  đường Trần Quốc Thảo gần đó.

Đông già (9), Mạnh già (10), Sang (11) và Tiến tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006. Ảnh chụp lúc 12 giờ 25, mọi người đang vui vẻ dùng bia

Tuấn (12), Trung (13) và Tiến đang nâng ly vui vẻ tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006. Ảnh chụp lúc 13 giờ 17, Trung đứng ngoài làm cổ động viên cho màn đá bổng đá bỏ này.

Sang và Cò (14, đang nói chuyện vui vẻ), Tiến, Nam và Thắm đang nghe hát Karaoke tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006. Ảnh chụp lúc 15 giờ 10, sau khi dùng cơm tại nhà hàng Như Ý  mọi người tiếp tục temp 2 tại quán karaoke Nice Võ Thị Sáu gần đó.


Bạn, Thắm và Tuấn tại kỳ họp lớp ngày 24 tháng 12 năm 2006. Ảnh chụp lúc 12 giờ 41, mọi người có vẻ no say nên thờ ơ với rượu bia và thức ăn đầy bàn.

Phần 3

Kỳ họp năm 2007

Năm này có một nhân vật khá đặc biệt là anh Giang già, cư trú tại Phú Thọ vào họp với lớp lần đầu. Số người tham dự họp là 16 người vào ngày 01 tháng 07 năm 2007.

Thuần (1, đang chỉ trỏ), Tiến (2), Long (3), Giang già (4), Phượng (5), Mạnh già (6), Ánh (7), Sinh già (8), Cò (9), Sang (10) và Định (11) tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 14 giờ 23, mọi người sau khi dùng tiệc xong chuẩn bị đi temp 2 hát karaoke.

Thiên (12), Giang già, Sinh già và Đông già tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 12 giờ 10, đang chờ mọi người cho đông đủ để nhập tiệc.

 Trung (13), Khánh (14), Định, Giang già và Sinh già tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 13 giờ 30, khi mọi người đang vui vẻ nâng ly.

Tiến, Định, Tuấn (14), Ánh, Phượng và Giang già tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 14 giờ 24, lúc này mọi người có vẻ no say nên không còn nâng ly hào hứng nữa. 

Giang già, Sinh già, Đông già (15) và Phượng đang đùa vui vẻ tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 13 giờ 47 sau khi dùng rượu bia khá nhiều, Đông già có vẻ thiếu kềm chế hoặc là muốn để lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong các kỳ họp lớp. 

 

Giang già, Thiên và Thắm (16) tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 12 giờ, mọi người đang chờ nhau cho đông đủ để nhập tiệc

Cò, Định đang song ca bài Tiếng chày trên sóc Bombo và Giang già đang thích thú nghe hát Karaokê tại kỳ họp lớp ngày 01 tháng 07 năm 2007. Ảnh chụp lúc 16 giờ 52.

Năm 2008 và năm 2009

Trong 2 năm này, lớp không tổ chức họp, phần vì một vài thành viên trong lớp có việc riêng (năm 2008 Phượng có việc riêng và năm 2009 Hòa có việc riêng), phần vì nội dung sinh hoạt chậm được cải tiến nên không còn đem cảm hứng nhiều cho mỗi kỳ họp.

Phần 4

Kỳ họp năm 2010

Có 18 người tham dự họp lớp tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk vào ngày 05, 06 và 07/11/2010. Đây là cuộc họp lớp lần đầu tiên không phải là thành phố Hồ Chí Minh với số lượng thành viên tham gia đông đảo nhất, thời gian kéo dài nhất và lý thú nhất từ trước cho đến kỳ họp này.

Do vậy, dù chỉ tập trung được một số ít cựu sinh viên cơ khí khóa 3 tham dự họp lớp năm 2010 tại Buôn Ma Thuột, nhưng đó lại là lần quy tụ của những con người tràn đầy tình cảm dồn nén, những hồi ức còn chưa có dịp ôn lại và những hy vọng cho các cuộc gặp mặt nhiều hơn, vui hơn, đầy tình bạn bè hơn nữa trong tương lai, bất kể là họp mặt tại đâu!

Cuộc họp lớp tại thành phố trên cao nguyên mang nhiều ý nghĩa là vì thế!

Vài hình ảnh về cuộc họp lớp Cơ khí khóa 3 tại Buôn Ma Thuột năm 2010

Cảnh giả sơn tại quán café Trung nguyên (từ trái sang phải): Nhựt, Huệ, Sang, Phượng, Cò, Thuần, Định, Trung, Bình và Nghĩa.

Quây quần bên ché rượu cần, tại nhà sàn Khu du lịch Cầu treo, Buôn Đôn

Toàn thể Đoàn tham quan tại Nhà dài trưng bày các hiện vật văn hóa người dân tộc Ê-đê

Ảnh chụp lúc 08h ngày 07/11/2010 tại thành phố Buôn Ma Thuột

Chú thích ảnh:  

Từ trái sang phải: Sơn, Thắm, Cò, Sang (đeo kính trắng), Nhựt, Lợi, Thuần, Phượng, Định (đeo kính đen), Bình, Mạnh già, Lanh (đeo kính trắng), Trung, Nam, Nghĩa, Khéo,  Điển, Tuấn, chị Huệ.

Hình nền phía sau là Nhà dài trưng bày các hiện vật văn hóa người dân tộc Ê-đê tại quán café Trung Nguyên

Những chàng thanh niên tóc xanh ngày nào bây giờ là những người trung niên bụng bự, tóc thưa hoặc muối tiêu, trên vầng trán có nhiều nếp nhăn do mưu sinh, nhưng nụ cười vẫn còn tươi thắm và chứa chan niềm hy vọng…

Kỳ họp năm 2011

Ảnh chụp tại Ngũ Hành Sơn vào ngày 14/08/2011. Từ trái sang phải: Nhựt, Định, Tổng, Cò, Mạnh, Trung, Phượng, Lợi và Tuấn.

Trước khi chia tay trong kỳ họp năm 2010, cả lớp nhất trí năm 2011 sẽ họp tại Đà Nẵng là nơi anh Phan Tá Điển cư trú. Có ý kiến cho rằng nên họp vào mùa bắn pháo bông để vừa họp lớp vừa thưởng lãm những màn trình diễn pháo bông quốc tế rất đặc sắc mà thành phố Đà Nẵng năm nào cũng tổ chức vào dịp lễ 30-04 để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Nhưng đa số ý kiến thiên về thời điểm nên họp là vào kỳ hè để nhiều người có thời gian rảnh, do vậy có thể cho các cháu cùng đi du lịch cho vui. Vì vậy cuộc họp lớp năm 2011 được tổ chức vào thời gian hè, 12-14/08/2011 tại Đà Nẵng.

Ảnh chụp trên tàu du lịch trên sông Hàn đêm 13/08/2011. Từ trái sang phải: Trung, Mạnh, Cò (đứng), Điển, Tuấn, Lợi, Lanh, 2 cháu con của Lợi, Phượng, vợ của Lanh, chủ tàu, con Tổng, Tổng, Định và Nhựt.

Tàu du lịch này được thuê dành riêng cho nhóm nên khá riêng tư. Trên tàu chuẩn bị sẳn thức ăn, thức uống và dàn nhạc Karaoke cho mọi người vừa ăn uống, vừa hát hò. Tàu chạy dọc theo sông Hàn từ cầu Thuận Phước (cầu dây võng duy nhất của Việt Nam) đến cầu quay sông Hàn rồi qua cầu Trần thi Lý. Mọi người có thể ngắm cảnh thành phố Đà nẵng vể đêm với những cao ốc sang trọng, những quán và phê nằm dọc theo sông Hàn, lung linh phản chiếu ánh đèn nêôn đủ màu sắc trên mặt nước sông Hàn. Chiều tối hôm ấy trời khá mát mẻ, đến tối lại có trăng lên nên không gian khá thú vị. Mọi người vừa khề khà chén rượu, vừa hàn huyên tâm sự hoặc ngắm cảnh trăng lên cho đến tận khuya mới lên bờ về lại khách sạn.

Chẳng trách gì Nhà thơ Lý Bạch danh tiếng vào thời Đường bên Tàu khi được mời rượu từng thốt lên:

Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon,

Ba trăm chén cũng dồn một cuộc.

Thánh hiền xưa cũng vẳng xa,

Chỉ có rượu với người say là vẫn để.

Hoặc đam mê tửu sắc như nhà thơ Tú Xương đã từng viết về ba cái lăng nhăng 

Một trà một rượu một đàn bà,
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta,
Chừa được cái gì hay cái nấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà.

Hoặc thanh nhàn như cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm 

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Ảnh chụp vào 14h ngày 13/08/2011 trên đỉnh núi Bà Nà. Từ trái sang phải gồm: Năng, Lợi, Tuấn, Cò, Định, Nhựt và Trung. Dù vào giữa trưa nhưng trên đỉnh núi Bà Nà không khí mát lạnh như Đà Lạt. mà  Bà Nà chỉ cách Trung tâm thành phố Đà Nẵng có 30 phút chạy xe nên phải nói là thiên nhiên ưu đãi thành phố này: vừa có cảnh biển, vừa có không khí miền núi, vừa có thành phố hiện đại với dân số gần 1 triệu người.

Ảnh chụp tại Đà Nẵng. từ trái sang phải: hàng trước: Cò (ngồi), con gái Trung, con gái Lợi, Trung, Phượng, con gái Tổng, vợ Lanh, Lanh; hàng sau: Định, Điển, con trai Lợi, Tuấn, Lợi, Tổng, Nhựt.

Năm 2011 cả lớp còn đến tham dự đám cưới con trai đầu của Sơn, cháu Nhân. Đám cưới được tổ chức vào ngày 30/10/2011 tại nhà Sơn. Sau khi dùng cơm xong mọi người vào nhà Tuấn (gần nhà Sơn) hát Karaoke thêm vài tiếng nữa rồi mới ra về.

Từ trái sang phải: Thắm, Giang, Thuần, Ánh, Bạn đang nâng ly chúc mừng cho 2 con Sơn

 

Đang nhậu trong nhà của Tuấn. Từ trái sang phải: Sang, Giang, Tuấn, Nam, Thắm, Cò (đứng).

Phần 5

Năm 2012

Năm 2012 lớp dự kiến họp tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 hoặc 8 (dịp hè). Chương trình họp như sau: gặp nhau tại Thành phố Hồ Chí Minh rồi kéo nhau ra Vũng Tàu vui chơi, tiện thể đến nhà Trung con quậy tưng một bữa (Trung con biết thông tin này chắc hết muốn họp luôn).

Nhưng vào đầu năm (tháng 02/2012) Tri Nhân từ Melbourne-Úc về nước thăm viếng người thân, bạn bè nên lớp có tổ chức nhiều cuộc giao lưu gặp gỡ với Tri Nhân. Trong dịp này lớp lại có thêm một nhân vật mới lần đầu tiên tham gia họp lớp, đó là anh Nguyễn Hoàng Tuấn (khi đi họp anh Tuấn cùng đi chung với một người bạn tên Hoàng mà lúc còn đi học cũng hay đến lớp chơi). Anh Hoàng Tuấn cư trú tại Mỹ Tho, Tiền giang. Từ ngày ra trường anh về địa phương là làm nghề kinh doanh thực phẩm như bánh, đường, sữa…Hai vợ chồng anh có cửa hàng ngay tại thành phố Mỹ Tho nên cuộc sống khá ổn.

Từ trái sang phải: Bạn, Tuấn, Nhân, Bích Liên, Đan (con gái Nhân), Tuấn (con trai Nhân) và Kiệt (con trai Tuấn) chụp ảnh lưu niệm trước Trường Đại học Nông Lâm vào buổi chiều thứ bảy ngày 04/02/2012. Hai cha con Nhân có chiều cao ngang nhau, 02 mẹ con của Bích Liên cũng vậy. Đúng là cha nào con nấy.

Từ trái sang phải: Khiêm (con trai Sang), Minh (con trai Tuấn), Nhân, Tiến, Sơn, Sang và Thanh (vợ Tiến). Mọi người đang nâng ly chúc mừng cuộc hội ngộ nhân dịp gia đình Nhân về Việt Nam tại nhà của Tuấn. Nước trong ly có màu nâu là rượu vang chứ không phải nước ngọt đâu đấy nhé!

Từ trái sang phải: Công, Thuần, Sơn, Nhân, Tuấn (đứng), Giang, Mỹ (vợ Giang) và sang đang nhậu trong vườn cao su của Giang (Tây Ninh). Sơn đang chơi classic như hồi còn đi học. Nhậu xong ai xỉn ra võng treo giữa các cây cao su nằm nghỉ, bao giờ thấy khỏe vào nhậu tiếp. Vì vậy chẳng ai say cả dù nhậu từ sáng đến chiều, xong rồi kéo nhau hát Karaoke đến 12 giờ đêm mới về Sài Gòn.

Cò nghe nói đang nhậu ở Tây Ninh muốn đi xe gắn máy lên chơi ngay, nhưng nghe mọi người sắp tàn tiệc nên thôi, nhưng trong lòng cứ trách Tuấn sao lúc đầu không rủ giả đi chơi. Giang đưa tay chữ V, ra dấu hiệu chiến thắng, muốn nói cuộc họp mặt thành công ngoài cả mong đợi, nhất là hắn đã biệt tích bao nhiêu năm trong chốn khỉ ho cò gáy mà bạn bè vẫn tìm đến, lại có cả Việt kiều nữa nên hắn mới húng thú đến như vậy.

Từ trái sang phải: Khéo, Nhân, Tuấn, Nhã và Phượng tại buổi tiệc liên hoan chia tay Nhân trước khi về Úc (nhà hàng Thanh Đa cặp bờ sông sài Gòn, mọi người vừa ăn nhậu, vừa hát Karaoke, ai không thích thì ra bờ sông hóng mát). Nhân rất chia sẻ với hoàn cảnh của Khéo (5 người con). Năm 2006 vào dịp đi ra Nha Trang chơi, Nhân có đi ngang Ninh Thuận kiếm nhà Khéo, nhưng vì đường vào nhà đang sửa nên xe ôtô không thể vào được. Năm nay Nhân mời bằng được Khéo vào họp lớp chơi. Do vậy nụ cười trên gương mặt mọi người rất tươi, tràn đầy hạnh phúc sau bao nhiêu năm xa cách. Còn Nhã cũng lần đầu tiên tham gia họp lớp. khi mọi người yêu cầu Nhã hát một bài vọng cổ, Nhã làm liền một bài với chất giọng chẳng thua kém gì nghệ sỹ cải lương Minh Vương.

Tổng kết từ lúc về Việt Nam Nhân đã gặp mặt tất cả 28 người bạn Cơ khí khóa 3 như sau: Văn Tuấn (cả gia đình), Sơn, Sang (với con), Thuần, Mạnh, Trung, Giang (với con), 

Long, Sinh, Xuân Bình, Thái Bình, Cường (với vợ), Thắm, Nam, Phượng (với con), Ánh, Nhã, Khôi, Hoàng Tuấn (với bạn), Khéo (với con), Định, Nhựt, Bạn, Cò, Công (với vợ và con), Nghĩa, Tiến (với vợ) và Năng. Chưa bao giờ lớp có cuộc họp mặt đông đến như vậy.

Bức ảnh chụp tập thể lớp Cơ khí khóa 3 hôm liên hoan chia tay Tri Nhân tại nhà hàng Thanh Đa (ngày 25/02/2012). Từ trái sang phải: Định, Sơn, Khéo, con Giang, Giang, Hoàng Tuấn, Phượng, Nam, Nhân, Ánh, Văn Tuấn, Bạn, Nghĩa, Long, Cò, Thái Bình, Thắm, Thuần, Nhã, Nhựt và anh Mạnh.

Thắm cũng nhân cuộc họp mặt chia tay với Tri Nhân đã gửi thiệp mời đám cưới con Thắm. Số bạn tham dự đám cưới con Thắm cũng khá đông: Văn Tuấn, Sơn, Sang, Mạnh, Của, Lanh, Ánh, Bạn, Hoàng Tuấn, Nam, Trung, Cò, Năng, Long, Phượng, Định, Thái Bình, Cường, Sinh.

Con Thắm năm nay 27 tuổi, cháu làm tại công ty Toyota.

Đám cưới con Thắm

Bức ảnh chụp lưu niệm hôm đám cước con Thắm, chủ nhật 25/03/2012. Từ trái sang phải: Sang, Cò, Tuấn, Long (cơ khí khóa 4), Cường và vợ, con dâu và con trai Thắm, Thắm, Phượng, Ánh, Sơn, Thuần, Định, Lanh, bạn Hoàng Tuấn, Thái Bình, Nam, Bạn và Nam (cơ khí khóa 4).

Phần 6

Tổng kết qua 7 kỳ họp lớp có lưu ảnh (năm 2003, 2006-2 kỳ, 2007, 2010, 2011 và 2012)

–          Số người tham dự đủ 7 kỳ họp lớp: 03 người là Trung, Mạnh già, và .

–          Số người tham dự 6 kỳ họp lớp: 06 người là Tuấn, Thắm, Nam, Thuần, Phượng, và Định.

–          Số người tham dự 5 kỳ họp lớp: 04 người, Sinh già, Lợi, Lanh, và Thái Bình.

–          Số người tham dự 4 kỳ họp lớp: 04 người là Sang, Đông già, Nhựt, Sơn.

–          Số người tham dự chỉ 3 kỳ họp lớp: 07 người là Ánh, Hưng Nghĩa, Điển, Long, Năng, BạnTiến.

–          Số người tham dự chỉ 2 kỳ họp lớp: 06 người Khéo, Khánh, Xuân Bình, Của, Công Cường.

–          Số người tham dự chỉ 1 kỳ họp lớp: 9 người Thiên, Giang già, Giang con, Tổng, Vân, Hoàng Tuấn, Anh Tuấn, Nhân Nhã.

Như vậy qua 7 kỳ họp lớp có tất cả 39 cựu sinh viên lớp cơ khí 3 có sinh hoạt lớp còn lưu giữ ảnh. Bên cạnh đó còn có một ít người cũng có sinh hoạt nhưng không có lưu giữ ảnh như anh Hòa, Phát, Mậu Khôi… Ngoài ra Mạnh già, Sinh già, Tuấn, Thuần, Phượng, Nam và Bạn còn tham gia họp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại học Nông Lâm vào ngày 19/11/2010 cùng với các Thầy Điện, Thầy Hiền, Thầy Xuân, Thầy Quý…

Những giá trị đem lại từ việc sinh hoạt lớp: lúc đầu có người cũng hơi ngỡ ngàng, chưa biết gặp lại sau hơn hai thập niên không gặp sẽ đem đến điều gì? Hay hoặc dở. Thậm chí có người chỉ trích họp lớp chỉ toàn ăn nhậu thôi, chẳng thấy làm điều gì hay ho. Nhiều người đến họp vì tò mò là chính, chỉ muốn biết những bạn học ngày xưa nay qua hàng chục năm trở thành người như thế nào? Nhưng qua nhiều lần sinh hoạt, cả lớp nhận thấy mọi người có nhu cầu gặp gỡ lại bạn học cũ, thăm viếng thân nhân ốm đau bệnh tật hoặc chia sẻ buồn, vui khi có chuyện hiếu, hôn nhân con cái. Dần dần mọi người thấy gần gũi nhau hơn và những trở ngại tâm lý ban đầu không còn nữa, sẳn sàng thông cảm và chia sẻ cho nhau những khó khăn, nổi buồn trong cuộc sống cũng như nhân thêm niềm vui khi có chuyện vui như con cái thành tài, lập gia đình: Đó là giá trị cốt lõi mọi người nhận được từ khi có sinh hoạt lớp đến nay.

Xin cảm ơn anh Đông về ý tưởng họp lại các cựu sinh viên lớp Cơ khí khóa 3, một ý tưởng đã gắn kết lại những con người tưởng chừng như vì nhiều trở ngại địa lý, điều kiện riêng, nhận thức cũng như tình cảm khó có thể gắn kết được sau nhiều năm không họp mặt nữa!

Xin cảm ơn anh Mạnh, một cựu binh tràn đầy nhiệt tình qua các buổi họp lớp và anh là một trong những người có mặt đầy đủ các buổi họp cũng như tạo mọi điều kiện khá tốt cho anh em gặp gỡ.

Xin cảm ơn những cựu sinh viên cơ khí khóa 3 đã vượt qua những khó khăn, trở ngại tưởng chừng như không thể vượt qua để đến sinh hoạt chung cùng những bạn đồng liêu thưở nào!

Xin cảm ơn tất cả mọi người có đến dự họp cũng như không đến nhưng có chia sẻ thông tin với lớp!

Một số bức ảnh thời còn đi học Đại học Nông nghiệp 4, Thủ Đức

Một bức ảnh chụp năm 1982 tập thể khá đông lớp Cơ khí Nông nghiệp khóa 3 (từ trái sang phải tổng cộng 37 bạn và 2 bạn không rõ mặt):

Hàng đầu: Năng, Trung, Nhựt, Thiên, Bạn, Tuyến, Lanh, Thế Minh (đã mất), và Hùng;

Hàng thứ hai: Điển, Phượng, Ánh, Hiến, Long, Nam (nhìn ngang), không rõ, Hoàng Tuấn, Định, Khéo, Trường, Lợi, Kông, không rõ, Tiến, và Hào;

Hàng trên cùng: Thuần, Cường, Văn, Giang nhỏ, Xuân Bình, Chính (đã mất), Cò, Vân, Trường Sinh, Hưng Nghĩa, Giang già, Mạnh già, Đức, Tiên.

Nhựt đang đứng trên nắp cabô máy kéo tại nông trường

HàngTừ trái sang phải

Hàng ngồi: Thế Minh, Thiên, Lợi, Hưng Nghĩa, Nam, và Nhựt;

Hàng đứng: Long, Tuyến, Bạn, Trường Sinh, Định, Hoàng Tuấn, Trung, Khéo, Kông, và Vân (nghệ sỹ với cây đàn).

Vài dòng về đợt thực tập lái máy kéo tại Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Long An – vùng Đồng Tháp Mười năm 1979-1980

Trong suốt thời gian học tập tại Khoa Cơ khí nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, tất cả sinh viên cơ khí có 2 đợt thực tập lái máy kéo quan trọng là đợt thực tập lái máy kéo thứ nhất năm 1979-1980 tại Vĩnh Hưng, Tân Hưng huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An thuộc vùng ngập nước Đồng Tháp Mười và đợt thực tập lái máy kéo thứ nhì năm 1981 tại Nông trường Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

PGS-TS. Đoàn Văn Điện, nguyên Trưởng Khoa Cơ khí Nông nghiệp, nguyên Hiệu Trưởng Trường Đại học Nông Lâm, một trong những người gầy dựng và lãnh đạo, quản lý khoa từ những năm đầu sau ngày giải phóng và sau này  tiếp tục quản lý Nhà trường, tại cuộc họp Khoa nhân kỷ niệm 55 năm ngày lập Trường.

Thầy Đoàn Văn Điện năm nay tuy đã “thất thập cổ lai hy” nhưng tâm hồn Thầy luôn tươi trẻ, trong các buổi liên hoan do khoa tổ chức Thầy luôn tham dự và hòa đồng cùng các cựu đồng nghiệp cũng như tất cả cựu sinh viên các khóa về tham dự. Trong ảnh Thầy đang cụng ly cùng anh Văn Tuấn cựu sinh viên khoa Cơ khí khóa 3, một trong những học trò của Thầy.

TS. Phan Hiếu Hiền, Nhà giáo Nhân dân giảng viên môn Máy nông nghiệp cho sinh viên ngành cơ khí nông nghiệp tại cuộc họp mặt kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại học Nông Lâm (1955-19/11/2010). Thầy Hiền là một trong những giảng viên giảng dạy từ trước ngày giải phóng tại Trường Đại học Nông Lâm Súc cho đến nay. 

Thầy Hồ Vĩnh Xuân, giảng viên bộ môn Sử dụng máy tại cuộc gặp mặt của Khoa nhân kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường (19/11/2010). Thầy Xuân đã nghỉ hưu nhưng sức khỏe vẫn còn tốt.

Phần 7

Về cuộc thực tập tại vùng Đồng Tháp Mười, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Long An

Ngã tư Cai lậy giao giữa Quốc lộ 1A và tỉnh lộ 868 đi Mộc Hóa.

Trong kế hoạch thực tập lái máy kéo, sinh viên có 1 tháng thực tập sản xuất tại ruộng đồng, vùng ngập nước Đồng Tháp Mười, Mộc Hóa, Long An. Sinh viên từ TP.HCM xuống thị trấn Cai Lậy, Tiền Giang, rẽ phải theo tỉnh lộ 868 đến ngã tư Mỹ Phước Tây, đi thẳng theo tỉnh lộ 829 đến Thị trấn Tân Thạnh vào Thị trấn Mộc Hóa rồi từ đây đi tắc ráng theo sông Vàm Cỏ Đông (do chưa có đường bộ) vào Vĩnh Hưng. Cách nay hơn 10 năm, tỉnh Long An đã cho làm Quốc lộ 62 từ Thị xã Tân An vào thẳng Mộc Hóa rồi tiếp tục đến thẳng Vĩnh Hưng, rút ngắn hơn 1/3 chiều dài đường và không phải dùng nhiều loại phương tiện giao thông so với trước kia. Và cách nay 2-3 năm Bộ Giao thông đã làm xong đường N2 từ Đức Hòa xuống Mộc Hóa xuyên ngang vùng ngập Đồng Tháp Mười.

Thị trấn Mộc Hóa ngày nay là một đô thị khang trang, đường sá rộng rãi, nhà cửa kiên cố, kiến trúc mang dáng dấp hiện đại (ảnh năm 2009). Tháng 3 năm 2010, Chính phủ có quyết định thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Long An gồm Mộc Hóa và một số xã tới cửa khẩu Bình Hiệp ở biên giới Campuchia. So với năm 1980 Mộc Hóa chỉ là 1 khu dân cư nhỏ bé, nghèo nàn, dân cư thưa thớt, đa phần nhà cửa là nhà tạm bợ, người dân có đời sống khó khăn, thiếu thốn mọi mặt.

Sinh viên đi thực tập lái máy kéo ở trọ trong nhà dân hoặc các trụ sở làm việc của nông trường nơi thực tập. Thường thì nơi ở rất tạm bợ nhà tranh mái lá, điều kiện sinh sống khá khó khăn nhất là đối với sinh viên nữ, nước ngọt chỉ có nước trong kênh, còn nước tắm là nước phèn, ăn uống khá kham khổ. Nhưng do còn trẻ, tràn trề sinh lực cũng như nghị lực nên sinh viên dễ dàng vượt qua trở ngại để hoàn thành đợt thực tập lái máy kéo trên đồng  ruộng kéo dài hàng tháng trời này!

Vĩnh Hưng và Tân Hưng ngày nay là hai huyện mới tách ra từ huyện Mộc Hóa trước đây, trung tâm hành chính huyện là thị trấn Vĩnh Hưng đã có đường bộ về đến Thị trấn Mộc Hóa cũng như đi khắp các trung tâm xã trong huyện và điện lưới quốc gia cũng được đưa về thắp sáng các vùng  sâu nông thôn. Ngày xưa, lúc sinh viên đi thực tập, ban đêm muốn đọc sách phải mở đèn của máy kéo, chứ đèn dầu thì quá mờ không nhìn chữ được.

Ngày xưa, sinh viên phải đi tắc ráng, còn gọi là vỏ lãi, dọc theo sông Vàm Cỏ Đông từ Mộc Hóa vào Vĩnh Hưng, do lúc đó chưa có đường bộ. Tắc ráng là một loại xuồng nhỏ gắn máy nổ (thường là máy Kohler 7) có sức kéo từ 5-10 mã lực, dân gian gọi là máy đuôi tôm, có thể chở trên 10-30 người và đi với tốc độ chừng 15-20 km/h rất thuận tiện cho việc đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa trên sông nước chuyển hàng hóa trên sông nước chằng chịt ở miền Tây Nam bộ.

Mỗi ngày sinh viên phải thực tập lái máy kéo trên đồng ruộng, sáng từ 8h-11h, chiều từ 14h-17h. Tại Vĩnh Hưng có những cánh đồng bao la bát ngát, khi cày ruộng sinh viên cỡi máy kéo Steyr của Áo viện trợ cho Việt Nam sau chiến tranh, xếp hàng ngang chừng 5-7 chiếc rồi cho xe máy chạy tạo thành một đường cày có khi đến vài km. Mỗi đường cày xe đi qua lần lượt hoặc là chuột đồng hoặc là rắn bông súng nằm phơi bụng trên đồng, sinh viên chỉ có việc đến nhặt lên bỏ vào cốp máy kéo đem về là buổi tối có món tươi để lai rai.

Cổng trại O’toole của quân đội Mỹ. Trước giải phóng thị trấn Mộc Hóa gọi là Kiến Tường, tại đây người Mỹ cho lập căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn bộ đội đánh chiếm. Đồng thời tổ chức đánh phá ra vùng Đồng Tháp Mười hoặc vùng biên giới như Vĩnh Hưng nơi quân Giải phóng lấy làm căn cứ địa và được bổ sung quân từ Campuchia để tổ chức các cuộc hành quân tiêu diệt đồn bót của địch và giải phóng các ấp chiến lược cũng như khu giãn dân.

Những cánh đồng bao la bát ngát tại Vĩnh Hưng dân gian gọi là biển đồng, tại đây tầm mắt được phóng xa mãi đến hết đường chân trời theo khắp bốn hướng mà không thấy giới hạn như làng xóm hay vật cản nào khác. Để gieo cấy cho kịp thời vụ, có khi phải gieo sạ bằng máy bay. Nếu đi lạc vào biển đồng thì hoàn toàn không thể biết lối ra. Chính vì vậy trong văn học Việt Nam để mô tả tính chất rộng lớn của các cánh đồng đó, một tiểu thuyết mang tên “Cánh đồng bất tận” đã nói lên  được tính chất cò bay thẳng cánh này và dựng thành phim vào năm 2010. 

Linh tinh về đợt thực tập lái máy kéo tại Vĩnh Hưng

Nhựt, Thiên và Hùng ngồi trên máy kéo Steyr lúc đi thực tập tại Vĩnh Hưng. Buổi tối đầu tiên sau khi di chuyển từ Vĩnh Hưng đến nơi thực tập, cả lớp được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ vài người đến 5-7 người, nhóm bọn này có  Đông già, Giang già, Văn Sang và Văn Tuấn. Sau khi cơm nước tắm rửa xong anh em rủ vài công nhân lái máy kéo của nông trường cùng nhau đi uống café. Lượt đi từ nơi ở đến quán café, cự ly khoảng 4-5 km do chưa biết đường nên nhóm nhờ một anh công nhân lái máy kéo đưa bọn này đi, các sinh viên phải ngồi trên nắp ca bô chắn bùn 2 bánh sau (ảnh). Lượt về Văn Đông bị các công nhân nói khích bọn này là đám sinh viên trói gà không chặt chưa biết chạy xe máy gì cả! Văn Đông nghe qua tức khí nhảy lên nắm vô lăng rồi yêu cầu anh em bám thật chặt, lái máy kéo chạy với tốc độ khá cao trên đường ngoằn ngoèo thôn xóm để chứng tỏ tay nghề, ngồi trên ca bô bọn mình thiếu điều muốn văng xuống ruộng sau màn biểu diễn tay lái lụa của Văn Đông!

Được biết tốc độ tối đa của máy kéo Steyr có thể đến 30km/h, khá cao so với các loại máy kéo khác, còn Văn Đông từ lúc theo gia đình sang Đông Âu các năm trước hình như đã có lái ô-tô rồi nên mới dám nhận lời thách thức của anh công nhân nọ. Từ đó về sau chẳng nghe họ dám thách thức gì nữa!

Đông già, Mạnh già và Thuần đang ngồi uống trà đàm đạo lúc 15h20 chiều ngày 12/08/2006 tại văn phòng Công ty SADACO chờ mọi người đông đủ sang nhà hàng Như Ý dùng tiệc.

Nhựt đang lái máy thu hoạch bắp tại nông trường Phạm Văn Cội, nơi thực tập lái máy kéo. 

Tổng kết đợt thực tập: hầu hết sinh viên bị khoa kỷ luật do không chịu nổi những khó khăn vất vả trong quá trình thực tập nên bỏ ra về sớm. Nhiều bạn không có tiền đi xe phải bán quần áo bảo hộ lao động để kiếm tiền về xe và nhiều kỷ niệm đáng nhớ khác… (mời các bạn trong lớp viết thêm!)

Phần 8

Một vài dòng về vùng trũng Đồng Tháp Mười, nơi sinh viên thực tập lái máy kéo

Vùng đất  ngập nước Đồng Tháp Mười

Đồng Tháp Mười là một vùng đất ngập nước của Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 697.000 hecta, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền GiangĐồng Tháp chiếm 17,72% diện tích tự nhiên của ĐBSCL. Đồng Tháp Mười được xác định bao gồm 15 huyện, một thị xã và bảy xã thuộc ba tỉnh Long An (299.000ha), Đồng Tháp (239.000ha), Tiền Giang (92.500ha). Vùng Đồng Tháp Mười có khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, vườn quốc gia Tràm Chim. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đồng Tháp Mười là một trong những chiến khu quan trọng nhất. Trong thập niên 1980, ba tỉnh nói trên đã đẩy mạnh khai hoang vùng Đồng Tháp Mười. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo quan trọng trên thế giới. Đồng Tháp Mười cũng là bối cảnh của bộ phim Cánh đồng hoang nổi tiếng tại Việt Nam.

Thủ Lảnh Kháng Chiến

Võ Duy Dương (18271866), còn gọi là Thiên Hộ Dương (do giữ chức Thiên hộ), là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa kháng chiến chống thực dân Pháp (1862-1866) ở Đồng Tháp Mười.

Võ Duy Dương

Tổng quan địa lý

Đồng Tháp Mười là một đồng lụt kín được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam – Campuchia, đê tự nhiên dọc sông Tiền và giồng biển cổ dọc theo quốc lộ 1A (Tân HiệpNhị Quý, Cai Lậy) và chặn lại bởi sông Vàm Cỏ Đông (Long An).

Đồng Tháp Mười được thành tạo trong phân đại đệ Tứ (Qiv), trên hai đơn vị trầm tích PleistocenHolocen cùng với giai đoạn trung gian của Hậu Pleistocen. Quá trình thành tạo hoàn tất của Đồng Tháp Mười được bắt đầu sau thời kỳ Hậu Pleistocen cách đây khoảng 8.000 năm. Nền trầm tích Pleistocen với các vật liệu phù sa cổ không đồng đều được phủ lên bằng vật liệu mới của trầm tích Holocen. Do đó, có thể tìm thấy những gò phù sa cổ và những giồng cát cổ nằm chen lẫn giữa cánh đồng phù sa mới. Dước tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và con người, thông qua sự phong hóa với các tiến trình sinh – hóa xảy ra đã hình thành nhiều nhóm đất khác nhau trong Đồng Tháp Mười. Đất phù sa ,cổ, đất giồng cổ, đất phèn, đất phù sa và phù sa ven sông.

Hệ sinh thái

Đồng cỏ ở Đồng Tháp Mười 

Sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên: địa mạo, trầm tich, đất, nước và các yếu tố khác đã hình thành những cảnh quan tự nhiên với các hệ sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười.

Hệ sinh thái rừng tràm (Melaleuca spp.) có thể tìm thấy khá nhiều trong đồng bằng ngập nước. Phạm vi xuất hiện của hệ sinh thái này khá đa dạng, từ vùng triền của đất dốc tụ cho đến đất phèn hoạt động. Những cánh rừng tràm có thể phát triển trên những cánh đồng, đồng thời cũng có thể phát triển khá nhiều dọc theo sông rạch. Tuy nhiên, những cánh rừng tràm nguyên sinh dường như không còn nữa mà chỉ có thể tìm thấy một phần rừng tràm tái sinh với diện tích quá nhỏ so với một vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn.

Hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa khá phổ biến và chiếm ưu thế trong vùng này xưa kia. Thảm thực vật với các quần xã thay đổi theo môi trường tự nhiên trong từng vùng. Những cánh đồng hoàng đầu ấn (Xyris indica), cỏ năng (Eleocharis sp.), cỏ ống (Panicum repens), cánh đồng cỏ mồm (Ischaemum sp.), cỏ lác (Cyperus sp.) trải rộng khắp vùng này xưa kia vẫn còn tìm gặp khá nhiều ở các khu bảo tồnvườn quốc gia, mặc dù tính phong phú giữa các loài đã và đang bị suy giảm.

Các loài sen–súng (Nymphaea sp.) cùng các loài thực vật thủy sinh khác chiếm ưu thế và đặt trưng ở các vùng đầm lầy đã bị thu hẹp diện tích do quá trình thoát thủy cải tạo đất cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp.

Có thể cho rằng các hệ sinh thái tự nhiên cùng với tính đa dạng sinh học đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười đã bị suy giảm nghiêm trọng, cảnh quan tự nhiên đã thay đổi sau một thời gian khai phá cho mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp chung cho vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long. Trước nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học và hủy diệt các nguồn gen quý hiếm, một số nỗ lực về công tác bảo tồn và phục hồi tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước trong châu thổ sông Mekong đã được đặt ra. Thông qua những nỗ lực này, các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành, và Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen là hai khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước rất điển hình được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười.

Về giao thông

Dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam đang xây dựng cạnh tuyến đường N2 đoạn Đức Hòa – Thạnh Hóa, tỉnh Long An – Ảnh: THANH ĐẠM

Tuyến Đường N2 nằm trong quy hoạch ngành giao thông vận tải đường bộ tại Nam bộ. Đây là 1 trong 3 trục chủ yếu: Quốc lộ 1A ở phía Đông, Quốc lộ N1 ở phía Tây và N2 ở giữa. Trục dọc nối Quốc lộ 22Quốc lộ 30 xuyên qua khu vực Đồng Tháp Mười.

Tuyến Đường N2 còn là một phần của Đường Hồ Chí Minh kéo dài từ Chơn Thành (Bình Phước) đến Vàm Rầy (Kiên Giang) dài  280km kết thúc tại đất mũi Cà Mau.

Sơ đồ tuyến N2 đường Hồ Chí Minh từ Củ Chi về An Giang cùng một số tuyến giao thông mới ở ĐBSCL – Đồ họa: Như Khanh 

Tổng chiều dài 440km đi qua 8 tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau.

Với tuyến đường mới này, các phương tiện giao thông từ các tỉnh miền Đông, Tây nguyên khi về đến TP.HCM theo quốc lộ 1A rẽ quốc lộ 22 đi vào tuyến N2 về các tỉnh miền Tây sẽ góp phần giảm mật độ giao thông trên quốc lộ 1A.

Trong đó đoạn Chơn Thành – Vĩnh Thuận (Kiên Giang) được xác định là đường cao tốc.

Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế Hàn Quốc (EDCF) cũng đã đồng ý cung cấp tài chính cho dự án xây dựng tuyến Lộ Tẻ – Rạch Sỏi nối từ cầu Vàm Cống đến Rạch Giá và nối với tuyến tránh Rạch Giá thuộc hành lang ven biển phía Nam. Như vậy, toàn tuyến sẽ khai thác vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Hà Tiên – Kiên Giang và bán đảo Cà Mau. Đoạn từ Củ Chi đi Đức Hòa đến Thạnh Hóa đã hoàn thành năm 2008.

Quốc lộ 62 là con đường chạy hoàn toàn trong tỉnh Long An, từ Thành phố Tân An đến huyện Vĩnh Hưng, dài 92,5 km. Quốc lộ 62 bắt đầu từ ngã tư giao với quốc lộ 1A, phường 2, Thành phố Tân An, đi qua 5 huyện Đồng Tháp Mười gồm Thủ Thừa, Thạnh Hoá, Tân Thạnh, Mộc Hoá và kết thúc tại cửa khẩu Bình Hiệp, huyện Mộc Hóa.

Độ dài một số tuyến đường:

  • Tân An – Mộc Hoá: 68 km
  • Tân An – cửa khẩu Bình Hiệp, Mộc Hoá: 77 km

Trong hệ thống giao thông đường bộ vào vùng ngập nước Đồng Tháp Mười, còn có các tuyến đường: Quốc lộ 30 (điểm đầu tại xã An Thái Trung thuộc huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, đi qua các huyện Cao Lãnh, TP Cao Lãnh, huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông, huyện Hồng Ngự và kết thúc tại cửa khẩu Quốc Tế Dinh Bà; ĐT 842, ĐT 843… Hệ thống giao thông nông thôn khá hoàn chỉnh. Nếu từ Tân Hồng đi TP Hồ Chí Minh, bạn sẽ đi theo đường ĐT 842, đi qua huyện Tân Hưng thuộc tỉnh Long An, sau đó theo Quốc lộ 62, bạn sẽ đi qua các huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh rồi đến Thành phố Tân An, ra quốc lộ 1A, tiến thẳng đi TP Hồ Chí Minh, với toàn bộ quãng đường dài 180Km, nếu đi theo Quốc lộ 30, quãng đường phải đi là 230Km. Ngoài ra, còn có Quốc lộ N1 dọc biên giới Campuchia đang được xây dựng góp phần phát triển kinh tế-xã hội vùng biên giới.

Ngoài ra còn có ĐT 868ĐT 829 từ thị trấn Cai Lậy, Tiền giang đi thị trấn Tân Thạnh,  rồi đến Mộc Hóa, Long An.

Hệ thống giao thông đường thủy, gồm có các kênh: Phía Bắc giáp Biên giới Campuchia có sông Sở Hạ, phía Tây có Kinh Thống Nhất (giáp ranh huyện Hồng Ngự), phía Nam có Kênh Hồng NgựVĩnh Hưng (kênh Trung ương), Phía đông có Kinh Cái Cái; ngoài ra còn có các kênh như Kênh Tân Thành – Lò Gạch, kênh Sa Rài tạo thành hệ thống giao thông thủy thuận tiên cho việc giao lưu và phát triển kinh tế với các huyện phía Nam của tỉnh Đồng Tháp và với các huyện Tân Hưng, Vĩnh hưng, Mộc Hóa của tỉnh Long An.

Vị trí của huyện Tân Châu so với thị xã Tây Ninh, nhà Giang ở xã Tân Phú, vườn cao su tại xã Suối Dây.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s