Thành Phố Vũng Tàu

             

  

  Vũng Tàu là thành phố thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ở vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Vũng Tàu từng là trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa và giáo dục của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và là một trong những trung tâm kinh tế của vùng Đông Nam Bộ.

  • Diện tích 140,1 km²
  • Dân số 322 873 người (năm 2011). Nếu tính cả những người đang làm việc và sinh sống lâu năm nhưng không có hộ khẩu tại Vũng Tàu thì dân số thực tế lớn hơn rất nhiều.
  • Cách  thành phố Sài Gòn 125 km và cách thành phố Biên Hòa 90 km về hướng đông, Vũng Tàu là một thành phố ven biển, giống như một hòn đảo vì nó được bao quanh ba mặt là biển và sông án ngữ mặt thứ tư. Vũng Tàu từ lâu nổi tiếng là điểm du lịch và nghĩ mát đặc biệt của Việt Nam. Vũng Tàu còn là khu vực hậu cần của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
  • Khoảng đầu thế kỹ XVI bán đảo Vũng Tàu có tên ghi trong nhật ký hàng hải của người Bồ Đào Nha là Oporeto CIN CHAGAS BERDAREIRAS có nghĩa là “ Năm vết thương của Chúa Cứu Thế “. Gọi như vậy vì Vũng Tàu nhìn từ ngoài khơi vào, người đi biển thấy có năm ngọn núi, tượng trưng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Đó là năm ngọn núi có tên là: Kỳ Vân, Núi Dinh, Núi Nứa, Núi Lớn, Núi Nhỏ.
  • Khi cuốn hải trình nổi tiếng Biển Phương Đông của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì Vũng Tàu lại có tên là Cap Saint Jacques. Theo nhà văn Nguyễn Tuân, Saint Jacques là tên một loài sò quen thuộc với người Pháp Coquille Saint Jacques có mặt tại vùng biển này. Trong thời Pháp thuộc Vũng Tàu có một tên khác là Ô Cấp hay Cấp.
  • Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba ngôi làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Tam Thắng là biến âm của hai chữ Tam Thoàn tức Tam Thuyền là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ dân và con đường thủy vào Gia Định chống lại bọn cướp biển. Năm 1882, Vua Minh Mạng cấp đất cho họ khai thác, lập nên ba làng trên để làm ăn, sinh sống.

Trong bản đồ dinh Trân Biên của các chúa Nguyển Thế Kỹ XVII, Vũng Tàu ngày nay đã được ghi là Thuyền Áo. Năm 1905, theo nghị định của Toàn quuyền Đông Dương, Cap Saint Jacques không còn là thành phố tự trị và trở thành đại lý hành chánh thuộc tỉnh Bà Rịa.  Năm 1929 Cap Saint Jacques trở thành tỉnh riêng, rồi đến năm 1934 tỉnh Cap Saint Jacques lại hạ cấp xuống thành thành phố. Năm 1956, tỉnh Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu hợp nhất thành tỉnh Phước Tuy. Đến năm 1964, quận Vũng Tàu trở thành thị xã Vũng Tàu (có 5 khu phố). Năm  1979  là thủ phủ của đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo. Năm1991, Vũng Tàu trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và được công nhận đô thị loại 2 vào năm 1999.

Khí Hậu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27 độ C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 độ C, tháng cao nhất khoảng 28,6 độ C. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ.  Lượng mưa trung bình 1500 ẩm.  Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.

 Vị Trí Địa Lý

Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ. Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và tấm biển. Ở vị trí này, Bà Rịa – Vũng Tàu có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung chuyển đi các nơi trong nước và thế giới.

Lịch Sử Hình Thành

Vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu xưa là địa bàn người Việt đến c­ư ngụ sớm hơn so với những nơi khác ở Nam bộ. Tuy nhiên, thời điểm cụ thể mà những người Việt đầu tiên vào định cư ở Nam bộ thì cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ.
có tài liệu cho biết, từ sau cuộc hôn nhân công chúa Ngọc Vạn (con của chúa Nguyễn Phúc Nguyên) với vua Chân Lạp (1620), dân Việt (xứ Đàng Trong) và Chân Lạp đã tự do đi lại và sinh sống ở hai bên lãnh thổ của nhau.

Năm 1623, vua Chân Lạp chấp thuận cho Chúa Nguyễn đặt trạm thu thuế ở Preinokor (tức Sài Gòn).  Từ đó, Chúa Nguyễn có được sở Quan thuế Sài Côn (tức Sài Gòn) và khu dinh điền Mô Xoài (tức Bà Rịa).  Nhưng sự ổn định đó không duy trì được bền vững.

Năm 1658, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần phải đưa 2.000 quân tiến đánh Thành Mô Xoài của Chân Lạp thuộc vùng đất Bà Rịa. Lý do của cuộc chinh phạt này được Chúa Nguyễn đưa ra là để bảo vệ những cư dân người Việt đã vào đây làm ăn sinh sống. Trận này, Chúa Nguyễn bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ong Chân. Chân Lạp xin được làm chư hầu và triều cống hàng năm. Năm Giáp Tuất, Thái Tông thứ 27 (1674), Chúa Hiền lại sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên đem quân đánh lũy Bô Tâm của Chân Lạp ở xứ Mô Xoài mà về sau người Việt gọi là Lũy cũ Phước Tứ (vùng thị trấn Long Điền ngày nay).

Những sự kiện được sử sách nhà Nguyễn ghi lại trên đây chứng tỏ rằng vào thời điểm ấy vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay đã có người Việt cư trúHọ được chính quyền (các Chúa Nguyễn) bảo hộ và đây vẫn còn là vùng đất tranh chấp giữa vua Chân Lạp và các Chúa Nguyễn.

Trong bốn sự kiện lớn của năm Mậu Dần (1698) được đưa vào bộ Đại NamThực Lục tiền biên thì sự kiện Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế “sai Thông suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược đặt Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện

Phước Long… lấy xứ Sài Gòn lập huyện Tân Bình… ”vào tháng Hai hẳn là sự kiện quan trọng nhất. Nó không chỉ có ý nghĩa trong việc xác lập chủ quyền ở vùng đất mới khai phá mà sự ghi chép ấy còn có giá trị sử liệu giúp hậu thế biết được chính xác một thời điểm quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc.

Khi Kinh lược sử Nguyễn Hữu Cảnh lập hai huyện Phước Long và Tân Bình (2-1698) thì vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay thuộc huyện Phước Long, Dinh Trấn Biên. Ở mỗi Dinh, Nguyễn Hữu Cảnh đều cắt đặt các chức Lưu thủ (người đứng đầu để quản lý chung), Cai bạ (người trông coi về ngân khố), Ký tục(người xét xử hình án), và các cơ độị thủy, bộ binh. Với khoảng hơn vạn hộ cư trú trước đó và ba vạn hộ dân Ngũ Quảng được Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ từ năm 1698 đến 1700, dân Phước Long – Tân Bình có khoảng hơn 4 vạn hộ (Đại Nam Thực Lục tiền biên). Tháng 10- 1698, Nguyễn Hữu Khánh được cử làm Lưu thủ dinh Trấn Biên.

Như trên đã nói, vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi cư dân người Việt vào khai khẩn từ rất sớm, trước khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý rất lâu. Khi ấy, trên bán đảo Vũng Tàu có lẽ làng xóm chưa hình thành. Tuy nhiên, trong sử sách nhà Nguyễn, Vũng Tàu đã được ghi là Thuyền Úc và trên bản đồ hàng hải nhiều nước phương Tây là Cinco Chagas Verdaretras hay Cap Saint Jarques. Như thế Vũng Tàu hẳn là một địa danh đặc biệt rất đáng lưu ý. Việc Nguyễn Ánh hứa sẽ nh­ượng Vũng Tàu cho Bồ Đào Nha vào năm 1786, nếu họ giúp Chúa Nguyễn đánh bại quân Tây Sơn đã chứng tỏ lợi thế và mối quan tâm đặc biệt của phương Tây đối với vùng đất này.

Tám năm sau khi khôi phục được vương triều, Gia Long (Nguyễn Ánh) đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành với 5 trấn. Vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay tương đương với huyện Phước An (trước đó chỉ là một tổng) thuộc trấn Biên Hòa (có một phủ, bốn huyện). Huyện Phước An có 2 tổng với 43 xã thôn, phường ấp. Về sản xuất, Hiệp Tổng trấn Trịnh Hoài Đức cho biết: Huyện Phước An sản xuất nhiều muối trắng ở Vũng Dương, giá rất rẻ (100 căn giá một tiền, đương thời. ruộng muối có thu nhập cao hơn ruộng lúa). Ở đây có thứ lãnh đen mềm láng là tốt đệ nhất trong cả nước (diện tích trồng mía và trồng dâu nuôi tằm của tu nhân huyện Phước An chiếm gần 2% diện tích toàn trấn Biên Hòa).Theo Đại Nam Nhất thống chí, cho đến cuối thế kỷ trước, lãnh đen Phước An mà đứng đầu là vùng Tam An (Long Đất ngày nay) vẫn còn nổi tiếng trong cả nước.

Năm 1832, Trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa, đến năm 1837, vua Minh Mạng đặt thêm phủ Phước Tuy, gồm huyện Phước An (Mô Xoài), Long Thành (Đồng Môn) và Long Khánh (Bà Ký). Phủ lỵ Phước Tuy đóng tại Bà Rịa.Đây là lần đầu tiên, địa bàn thị xã Bà Rịa ngày nay trở thành trung tâm hành chính của một phủ. Huyện Phước An bấy giờ có 4 tổng: An Phú Thượng (gồm 4 xã, 4 thôn, 1 phường, 3 thuyền), An Phú Hạ (gồm 8 thôn), Phước Hưng Thượng (gồm 1 xã, 9 thôn), Phước Hưng Hạ (gồm 1 xã, 10 thôn, 1 phường). Phước An có diện tích thực canh là 1698 mẫu, 3 sào, 13 thước trên tổng số 1729 mẫu, 4 sào, 3 thước đã được kê khai.

Thời Gia Long, Minh Mạng, các thôn Long Điền, Hắc Lăng (thuộc huyện Long Đất ngày nay) là trù phú, giàu có vào hạng nhất trong vùng, chủ yếu nhờ nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa…

Ngày mồng bảy Tết Kỷ Mùi (9-2-1859), 12 chiến hạm chạy bằng máy hơi nước của liên quân thực dân Pháp – Tây Ban Nha do Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy đã dàn trận tại vịnh Hàng Dừa (Bãi Trước – Vũng Tàu). Sáng sớm hôm sau, chúng nã pháo vào phòng tuyến bảo vệ của nhà Nguyễn trên bán đảo Vũng Tàu.

Suốt trong ngày 10-2-1859, đoàn chiến hạm của liên quân Pháp – Tây Ban Nha với ưu thế hơn hẳn về đại bác đã phải vô cùng chật vật chống trả với những khẩu thần công của nhà Nguyễn đặt trên pháo đài Phước Thắng (vị trí Bạch Dinh ngày nay) mà tầm bắn tối đa chỉ 1km. Thống chế Trần Đồng, vị tổng tư lệnh chỉ huy trận đấu pháo đã hy sinh anh dũng trên chiến lũy cùng với những viên đạn cuối cùng của pháo đài Phước Thắng trong buổi chiều lịch sử 10-2-1959. Cái chết của vị Thống chế cùng trận đấu pháo quyết liệt và không cân sức của những người lính thủ can trường trên pháo đài Phước Thắng năm ấy tuy không ngăn được bước tiến của đạo quân xâm lược nhưng đã ghi một chiến công đầu trong trang sử hào hùng của quân và dân miền Đông Nam bộ ngay từ những ngày đầu chống đạo quân viễn chinh xâm lược của thực dân Pháp.

Ngày 14-2-1862, Biên Hòa rơi vào tay quan Pháp. Các đạo binh của nhà Nguyễn ở xứ Đồng Nai rút về Bà Rịa tiếp tục cuộc kháng chiến. Đô đốc Lê Quang Tuyên đã tập hợp các đạo binh trên địa bàn, giáng trả quân viễn chinh xâm lược của đô đốc Bonard những đòn chí tử tại thành Bà Rịa, Phước Thọ, Long Phước, Cù Mi… là những địa bàn trú quân và hoạt động của lực lượng nghĩa quân do Đô đốc Lê Quang Tuyên chỉ huy.

Năm 1867, thực dân Pháp chia Biên Hòa thành 5 địa hạt tham biện. Hạt Bà Rịa tương đương địa giới huyện Phước An gồm 4 tổng người Việt và 4 tổng người Thượng với 57 buôn làng. dân so 20.543 người. Năm 1869 có sự sắp xếp lại về hành chính: Hạt Bà Rịa chỉ còn 7 tổng nhưng tăng lên 67 làng. Về sản xuất, Hạt Bà Rịa có 3808,7 ha đất canh tác, ruộng muối chiếm đến 140 ha.

Ngày 1-5-1895, chính quyền thực dân ban hành Nghị định chính thức thành lập thành phố Vũng Tàu. Đây là mốc lịch sử quan trọng tạo tiền đề và mở đường cho Vũng Tàu phát triển. Sau này, vào các thời điểm 1899, 1904, 1920, 1956, 1989, 1991… Vũng Tàu có những đổi thay về địa giới, nhưng trước sau. điều đó đều khẳng định ưu thế của Vũng Tàu nói riêng và Phước Tuy x­a nói chung.

Theo thống kê của chính quyền thực dân Pháp, năm 1910, dân số tỉnh Bà Rịa là 56.525 người, trong đó có 1.200 người quốc tịch âu, riêng Côn Đảo có 264 người (không kể tù nhân). Các trung tâm dân cư và kinh tế được nhắc đến nhiều là Chợ Bến, Long Hải (Long Đất ngày nay) và vùng Thị Vải (thuộc huyện Tân Thành ngày nay).

Năm 1930, định Bà Rịa chỉ có hai quận Long Điền và Đất Đỏ, dân số xấp xỉ 58.000 người, diện tích ruộng lúa canh tác gần 13.600 ha với sản lượng 10.000 tấn (trung bình 172kg/người). Đặc biệt diện tích trồng cao su tăng lên đáng kể, đạt 6.669 ha. Cùng thời điểm này, dân số Vũng Tàu là 7.000 người.

Trước Cách mạng Tháng Tám (1945) cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30- 4-1975), tình hình sản xuất lương thực ở Bà Rịa nhìn chung ít có thay đổi. Người ta thấy trong giai đoạn này diện tích trồng lúa của tỉnh Bà Rịa không tăng; diện tích trồng cao su giảm hơn một nửa so với trước. Riêng Vũng Tàu, dân số có lúc lên đến 87.000 người (1970), tăng hơn 80 lần so với 30 năm trước, trong khi dân số Bà Rịa chỉ tăng gấp đôi. Mật độ dân số Vũng Tàu cao thứ hai ở miền Nam, chỉ sau Sài Gòn.

Ngày nay, với những ưu thế của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu, trong chiều hướng phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Tổ quốc, Bà Rịa-Vũng Tàu vẫn giữ một vị trí quan

trọng, trong đó có những ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu của đất nước, chúng ta vẫn thầm cảm ơn các bậc tiền nhân đã khai phá vùng đất này, từ hơn 300 năm trước, để mỗi bước đi và niềm vui, hạnh phúc hôm nay, chúng ta đều có niềm tự hào và biết ơn những giọt mồ hôi và xương máu của cha ông.

(Dẫn theo “BR-VT 300 năm nhìn lại” của ĐINH VĂN HẠNH; đăng trên Báo Bà Rịa – Vũng Tàu sô Xuân Mậu Dần 1998).

Bà Rịa Vũng Tàu Ngày Nay

Bà Rịa – Vũng Tàu rất thuận lợi cho việc phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng. Ven biển có nhiều vùng n­ước sâu, cửa sông, cảnh quan thiên nhiên, băi tắm đẹp, khí hậu ôn ḥòa thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống cảng biển, cảng sông, phát triển các mặt hoạt động thư­ơng mại, dịch vụ, du lịch.mở mang giao l­ưu kinh tế, văn hóa với nhiều vùng trong nước và quốc tế. Sau ngày giải phóng, tiềm năng trên vùng đất này ngày càng đ­ược khai thác, tái tạo, phát huy có hiệu quả, đồng thời cũng tạo ra những tiềm năng mới cho sự phát triển của Bà Rịa- Vũng Tàu.

Nền kinh tế Bà Rịa – Vũng Tàu đă có sự chuyển biến lớn và đang trên đà phát triển với nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao theo cơ cấu kinh tế: công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp, trong đó có 80,7% là công nghiệp xây dựng – 18,2% là dịch vụ du lịch, 6,3% nông nghiệp, được xác định là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế động lực phía Nam của đất n­ước. 

Đáng chú ý là ngành công nghiệp dầu khí – ngành kinh tế mũi nhọn của đất nư­ớc ngày càng phát triển với quy mô lớn. Đến nay trên 50 triệu tấn dầu và hàng trăm triệu m3 khí đă được khai thác, sử dụng, góp phần quan trọng vào việc ổn định phát triển kinh tế – xă hội của đất nước trong những năm vừa qua. Ngoài dầu khí, một số ngành, lĩnh vực công nghiệp khác cũng có b­ước phát triển mạnh, nhất là công nghiệp điện, nước, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, hải sản.

Kinh tế du lịch phát triển nhanh, hàng chục khách sạn, biệt thự, văn phòng làm việc, nhà ở cho thuê, nhà nghỉ dưỡng hiện đại đă được xây dựng và nhiều tuyến, điểm du lịch mới đ­ược mở thêm, thu hút hàng triệu lư­ợt du khách mỗi năm, là một trong những trung tâm du lịch lớn của khu vực và cả nước.

Nhiều vùng đất đă được khai hoang, phục hóa, hàng năm hàng ngàn hecta chuyên canh cây cao su, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, đất rừng, mặt nước nuôi trồng thủy sản đă được quy hoạch phát triển. Ngày nay toàn tỉnh đă có gần 4.000 tàu ghe cá, sản lượng đánh bắt đạt bình quân trên 100.000 tấn mỗi năm, là một trong các địa phương có sản lượng hải sản cao trong cả nước.

Ngoài ra, tỉnh đă và đang tích cực triển khai thực hiện các chương tŕnh, tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xă hội; phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, hải sản; phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hiện nay tỉnh đă hoàn thành 9 khu công nghiệp, bao gồm: Khu công nghiệp Mỹ Xuân, Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Ngăi Giao, Long Sơn, Long Hương, Đông Xuyên, Bắc Vũng Tàu, Phước Thắng.

Về đời sống văn hóa Bà Rịa – Vũng Tàu đă có một bộ mặt mới, hầu hết các xă đều có nhà văn hóa, tụ điểm sinh hoạt văn hóa với nội dung sinh hoạt ngày càng được cải tiến và đi vào chiều sâu, chất lượng hoạt động đ­ược nâng lên.

Về giáo dục, căn bản đă hoàn thành phổ cập tiểu học, đang triển khai công tác phổ cập trung học, nhiều trường dân lập được đưa vào sử dụng. Đây là nét mới trong việc thực hiện chủ trương xă hội hóa giáo dục.

Với những thành quả đă đạt được trong 25 năm vừa qua, Bà Rịa – Vũng Tàu đang tiếp tục phát huy mọi tiềm năng nội lực sẵn có để phát triển, xứng đáng là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tiềm Năng Phát Triển:

1. Trước hết phải nói về tiềm năng dầu khíTrên thềm lục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông … Trữ lượng công nghiệp của các mỏ này cho phép khai thác 20 triệu tấn dầu mỗi năm. Khí đồng hành và khí thiên nhiên cũng có trữ lượng lớn (khoảng 300 tỉ m3) cho phép mỗi năm khai thác 6 tỉ m3. Riêng khu vực lòng chảo Côn Sơn đã phát hiện hai mỏ khí thiên nhiên Lan Tây – Lan Đỏ trữ lượng 58 tỉ m3, mỗi năm có thể khai thác 1-3 tỉ m3.

2. Tiềm năng về khai thác và chế biến hải sản là rất lớn. Theo số liệu của ngành Thủy sản, vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có nguồn lợi rất đa dạng gồm 660 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, cho phép mỗi năm khai thác  200.000 tấn. Sản lượng đánh bất năm 2002 là 160.465 tấn hải sản các loại, trong đó hàng chục nghìn tấn có giá trị chế biến để xuất khẩu. Vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu cường độ gió không cao, ít bão, có nhiều cửa lạch cho tàu thuyền neo đậu nên hoạt động khai thác hải sản gặp rất nhiều thuận lợi. Tỉnh còn có 5.700 ha mặt nước có thể phát triển việc nuôi trồng các loài thủy hải sản, trong đó đặc biệt là nuôi tôm – một mặt hàng có giá trị kinh tế cao.

 Nghề khai thác kéo theo nghề chế biến hải sản phát triển. Đó là nghề truyền thống với nhiều thành phần kinh tế tham gia ở nhiều qui mô khác nhau. Năm 2002, riêng về hàng hải sản xuất khẩu, tổng khối lượng chế biến là 46.848 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 85 triệu USD. Ngoài ra là một khối lượng rất lớn khoảng 9 triệu lít nước mắm, 20.000 tấn bột cá, 6.000 tấn cá khô phục vụ thị trường nội địa.

3. Tiềm năng về cảng biển là lợi thế vô cùng to lớn của Bà Rịa – Vũng Tàu.Dự trữ công suất cảng biển của Bà Rịa – Vũng Tàu có thể đạt tới 80 triệu tấn hàng hoá luân chuyển mỗi năm. Sông Thị Vải chảy qua tỉnh với chiều dài 25 km, chiều rộng trung bình 600 – 800 mét, sâu từ 10 – 20 mét cho phép xây dựng một hệ thống cảng công suất từ 18 – 21 triệu tấn hàng hóa/năm và tàu trọng tải lớn từ 40-60 nghìn tấn ra vào dễ dàng. Tại đây hiện đã có Cảng Baria – Serese dài 132 mét, công suất 1,2 triệu tấn/năm đang hoạt động. Khu vực Sao Mai – Bến Đình thuộc Thành phố Vũng Tàu có khả năng xây dựng cảng nước sâu cho tàu trọng tải trên 100.000 tấn ra vào được với tổng công suất 50 triệu tấn hàng hóa luân chuyển hàng năm. Côn Đảo có vịnh Bến Đầm rộng trung bình 1,6 km, dài 4 km, sâu từ 6 – 18 mét, kín gió; tại đây đã xây dựng và đưa vào sử dụng Cảng Bến Đầm có chiều dài cầu cảng 336 mét, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 2.000 tấn. Tại Vũng Tàu trên sông Dinh phần chảy qua thành phố dài 10 km hiện đã đầu tư và khai thác một loạt cảng đang khai thác, tàu 10 nghìn tấn ra vào được như Cảng Dịch vụ dầu khí, Cảng cá, Cảng dầu, Cảng thương mại…

4. Bà Rịa – Vũng Tàu là một trung tâm du lịch lớn của cả nướcTỉnh có khoảng 150 km bờ biển có bãi tấm đẹp, bãi cát dài thoai thoải, nước trong và sạch quanh năm như :Bãi Trước,  Bãi Sau, Bãi Dâu, Bãi Dứa (Vũng Tàu), Long Hải (Long Đất), Hồ Cốc, Hồ Tràm (Xuyên Mộc), và dải bờ biển Côn Đảo. Gắn liền với các bãi tắm biển là các khu rừng nguyên sinh nh Bình Châu – Phước Bửu diện tích 11.293 ha với suối nước khoáng nóng Bình Châu,Vườn Quốc gia Côn Đảo 6.043 ha với hệ động thực vật phong phú. Đặc biệt ở đây có di tích hệ thống nhà tù Côn Đảo. Điều kiện thiên nhiên lý tưởng và hệ thống phong phú các di tích lịch sử cách mạng và văn hóa, các danh lam thắng cảnh là những nguồn tài nguyên du lịch mà Bà Rịa – Vũng Tàu đang khai thác.

5. Do có tiềm năng lớn về dầu khí, cảng biển, có trung tâm điện năng lớn nhất cả nước là Phú Mỹ và nhiều điều kiện thuận lợi khác nên Bà Rịa – Vũng Tàu có khả năng thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệpTỉnh đã và đang huy động các nguồn vốn để đầu tư hạ tầng kỹ thuật 7 khu công nghiệp (KCN) đã được Thủ tướng phê duyệt quy hoạch và cho phép thành lập, bao gồm: KCN Đông Xuyên 160,8 ha, KCN Phú Mỹ (I) 954,4 ha, KCN Mỹ Xuân (A) 122,6 ha, KCN Mỹ Xuân A (mở rộng) 146,6 ha, KCN Mỹ Xuân (Bi) 222,8 ha, KCN Mỹ Xuân (A2) 312,8 ha, KCN Cái Mép 670 ha. Đến nay, tại các KCN này đã có 89 dự ánđầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 3 tỉ USD. 

6. Về tài nguyên đất đaitỉnh có 9 trong tổng số 12 nhóm đất của cả nước, trong đó nhóm đất đỏ bazan có diện tích lớn gần 64.000 ha, bằng 34,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và chiếm 9,8% quỹ đất đỏ bazan của toàn vùng miền Đông Nam Bộ. Đất đỏ bazan rất thích hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, điều, và cáy ăn trái Toàn tỉnh có khoảng 19.150 ha cao su, 12.000 ha cà phê, 12.360 ha điều, 2.400 ha tiêu, 7.800 ha cây ăn trái….

Bãi Trước hay còn gọi là Bãi Tầm dương.

 Bãi Trước nằm giữa hai ngọn Núi Lớn và Núi Nhỏ, đột khởi từ mặt biển, theo một đường vòng cung khá đều.

Dọc theo bãi biển có trồng nhiều dừa, dương liễu và bàng. Những hàng cây này che mát bãi cát gần biển, dưới tán cây có nhiều hàng quán xinh xắn. Các khách sạn lớn đều tập trung trên bãi biển này.

 Bãu Sau nằm ở Đông Nam Thành phố Vũng Tầu, dài khoảng trên 8 km từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp, sạch, đẹp và rộng rãi. Đi lên phía Bắc, phi lao được trồng san sát che mát bãi tắm, phong cảnh quyến rũ, lên thơ.

Bãi Sau tựa lưng vào những đồi cát và rừng cây, trước mặt là biển Đông. Kề ngay Bãi Sau là núi Hải Đăng, những vách đá hang Dơi và Hòn Bà.

Phía xa ngoài biển, phía trái chân trời là dãy núi Long Hải chạy dài đến núi Kỳ Vân. Mặt biển phẳng lặng vào mùa gió nam nhưng lại sóng to, gió lạnh vào mùa gió bắc.

Bãi Sau tuy xa nhưng rất đông du khách vẫn thường xuyên đến tắm.

Sóng to, biển sạch đẹp, Bãi Sau là bãi biển đông vui, nào nhiệt nhất trong các bãi biển ở Vũng Tàu.


 Bãi Dứa cách bãi trước chừng hơn một cây số.

Đây là một bài biển đẹp nằm dưới chân Núi Nhỏ, ở đây có những mỏm đá lởm chởm màu đen láy và những bụi dứa dại mọc rải rác trên bờ tạo cho cảnh biển thêm vẻ hoang sơ, tự nhiên.

Bãi Dâu nằm ven Núi Lớn và cách bãi trước khoảng 3 km. Bãi biển này hẹp, nông nhưng rất sạch sẽ.

Hai đầu bãi biển có nhiều mỏm đá nhô ra biển, sau lưng bãi địa hình lòng chảo, cây cối um tùm bao bọc, tựa lưng vào triền Núi Lớn. Nhiều người thích tắm ở Bãi Dâu do không có những luồng xoáy nguy hiểm.

Nhìn lên triền Núi Lớn, du khách thấy tượng Đức Mẹ lộ thiên giữa cảnh núi rừng hùng vĩ.

Hồ Tràm hay còn gọi là Thuận Biên, thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc.

Bãi này nối liền Nước Ngọt với Long Hải, là một bãi cát rộng, dài khoảng 20 km, có rừng phi lao rộng khoảng 2 Ha.

Du khách có thể nghỉ ngơi trong cảnh đẹp của rừng phi lao, thưởng thức các món ăn hải sản của vùng này.

Bãi Long Hải cách Phước Lễ 16 km và chạy dài theo chân dãy Châu Long, Châu Viên. Bãi này kéo dài vài km với những bờ cát trắng tuyệt đẹp, Nước biển trong xanh và ít sóng. Dọc bờ biển có những hàng dương mát để du khách có thể nghỉ ngơi ngoài trời.

Trên những dãy núi lân cận có nhiều ngôi chùa như Vân Sơn, Mai Sơn, Ngọc Tuyền, Bồng Lai … Du khách có thể tới để lể Phật, ngắm cảnh thiên nhiên, hít thở làn không khí nhẹ nhàng, trong trẻo trên núi.

Mũi Nghinh Phong nằm ở hướng cực nam Thành Phố Vũng Tàu. Bãi tắm này hẹp, Nước rất sạch, sóng gió dồn dập, ba bề vách đá cheo leo vô cùng hùng vĩ. 

Mũi Nghinh Phong nhô ra biển Đông trông như một chiếc đầu cá sấu khổng lồ. Quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kỳ dị vô cùng lạ mắt, đây là nơi hẹn hò tuyệt vời cho những người thích câu cá và ưa mạo hiểm.

Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Lớn

Xã đảo Long Sơn(Thành phố Vũng Tàu) ngày nay còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán cũ xưa với cảnh trí thiên nhiên phong thuỷ hữu tình cùng với những ngôi nhà kiến trúc theo lối cổ có sức hấp dẫn kì lạ với khách du lịch. Trong đó, quần thể Núi Nứa và khu di tích Nhà Lớn (Đền Ông Trần) hợp thành thắng cảnh độc đáo nổi tiếng.

Quần thể núi Nứa về phía đông của đảo, dài trên 6 km, bề ngang chỗ rộng nhất 2km. Đây là đoạn cuối cùng nhô ra biển của Dãy núi Phước Hoà. Dãy núi chiếm 30% diện tích của đảo lớn với ba đỉnh cao tạo thành thế chân vạc, cao nhất là đỉnh Bà Trao 183m, đỉnh Hố Rồng 120m và phía nam có đỉnh Hố Vông cao trên 100m. Trên đỉnh Bà Trao tọa lạc cột đá cao hơn 5m có tên là Hòn Một. Cách đó không xa hai khối đá dài bắc ngang tựa như con tàu biển nên gọi là Hòn Tàu.

Với tổng diện tích 2ha, bố cục Nhà Lớn chia làm ba phần riêng biệt bao gồm: Khu đền thờ, nhà Long Sơn Hội, trường học, nhà chợ, nhà mát, nhà bảo tồn ghe sấm, dãy phố quanh chợ và lăng mộ ông Trần, người sáng lập ra tín ngưỡng khác lạ và tạo lập khu dân cư mới ở vùng đông nam đảo từ năm 1910 đến 1935. Khu vực đền thờ rộng 7.800 mét vuông với những công trình kiến trúc đồ sộ, trang nghiêm … lầu cấm, tiền điện 2 tầng 8 mái, kế tiếp là nhà Thánh, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật (chính điện).

Khu di tích Nhà Lớn hiện đang lưu dữ nhiều sưu tập cổ vật quý báu : bộ tủ thời cẩn xà cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc vùng Hà Đông (Bắc Bộ), bộ bàn ghế Bát Tiên  (Tương truyền của vua Thành Thái) đồng hồ cổ do Pháp chế tạo đầu thế kỷ XX.

Lịch sử xây dựng khu nhà Lớn đồng thời quá trình hình thành và phát triển của ấp Bà Trao. Vì vậy bố cục kiến trúc, nghệ thuật trang trí của di tích đã phần nào thể hiện nét tiêu biểu, đặc trưng của tín ngưỡng Ông Trần. Tín ngưỡng Ông Trần không có tính thuần tuý mà trong đó pha tạp nhiều đạo giáo khác nhau: đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo thờ ông bà tổ tiên …

Chùa Linh Sơn Cổ Tự

Chùa Linh Sơn Cổ Tự nằm trên đường Hoàng Hoá Thám, tuy không đồ sộ, rộng lớn nhưng là ngôi chùa lâu đời nhất ở Vũng Tàu.

Lúc đầu chùa được xây dựng trên triền Núi Nhỏ nhưng đến năm 1919 khu vực này bị thực dân Pháp chiếm dụng để xây dựng biệt thự cho hoa tiêu Pháp. Ngay sau đó một ngôi chùa khác được xây dựng và tồn tại đến ngày hôm nay. Trong chính điện có thờ một tượng Phật cao 1,2m bằng đá có phết vàng được điêu khắc rất khéo léo tạo nên vẻ từ bi và sống động trên nét mặt của đức Phật.

Truyền thuyết kể lại rằng cách đây hơn một trăm năm có đoàn ghe chài lưới từ miền trung vào đánh cá ở Bãi Trước. Trong khi kiếm củi ở Núi Lớn tình cờ họ phát hiện hai pho tượng Phật bằng đá vùi dưới đất trên sườn núi gần Bãi Dâu. Họ cùng đào lên rồi cùng chờ đến hôm sau xin mang về. Dân địa phương biết tin vội kéo đến xem và cho rằng đó là di tích lịch sử của đại phương nên cương quyết đòi giữ lại. Nhóm dân chài Miền Trung năn nỉ mãi mới lấy được pho tượng nhỏ đem đi. Pho tượng lớn được dân chài rước về thờ, chính là pho tượng hiện nay ở Linh Sơn Cổ Tự.

Chùa Thích Ca Phật Đài  

Thích Ca Phật Đài là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Vùng Tầu.Khu vực Chùa rộng 6 ha xây dựng trên sườn Núi Lớn.

Ngày 20/07/1961 chùa Thích Ca Phật Đài đã được khởi công xây dựng và được khánh thành trọng thể vào ngày 09/03/1963. Kinh phí chùa do phật tử quyên góp.

Một Bảo Tháp cao ba mét là nơi chứa di cốt của vị sư đầu tiên trụ trì ngôi chùa này, đó là ông Phù Vinh. Phía trên là ngôi Thiền Lâm Tự, nơi ở phật chính của chùa.

Trong chùa có nhiều bức tượng có tiếng như tượng Phật Đản Sinh diễn tả một hài nhi đứng trên toà sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Truyền thuyết kể lại rằng Đức Phật là thái tử con vua ấn Độ được sinh vào năm 623 trước công nguyên. Nay sau khi chào đời thái tử bỗng vùng dậy và bước đi bảy bước, cứ mỗi bước của ngài có một bông sen nở ra đỡ láy bàn chân. Đứng trên bông sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất với ý nghĩa “Thiên thượng thiên ha hạ di nga độc tôn” hay tượng Cắt tóc đi tu là bức tượng một chàng trai dùng kiếm cắt tóc  diễn tả sựu tích sau : Năm 16 tuổi Thái  tử lập gia đình và cứ thế cuộc sống trôi đi  êm ả làm thái tử nhàm chán ,chàng xin phép vua cha cho đi ngao du ngoài cung điện,và rồi qua những lần ra ngoài ngài đã biết được bức tranh toàn cảnh về đời sống con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi (Sinh,Lão, Bệnh,Tử).

Tượng kim thân Phật Tổ  

Bức tượng này được đúc bằng xi măng cốt sắt, tượng cao 6 m đặt trên toà sen cao 4 m. Sau những năm nhập vào chốn tu hành, nhà sư Shidharta đã giác ngộ được phương sách giải thoát cho nhân loại và trở thành Phật Thích Ca. Hình tượng đức Phật Thích Ca thường được diễn tả như tượng Kim Thân Phật Tổ.

Thắng cảnh Bàu Sen  

Khu nghỉ mát Bàu Sen nằm cách thị xã Bà Rịa 30km về phía Bắc nằm trong một trong những khu rừng lịch sử phía Nam.

Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước, với diện tích 120ha (dài 3000m rộng 400m) độ sâu trung bình 3,5m, được cung cấp nước bởi con suối Tầm Bó bắt nguồn từ Cẩm Mỹ rừng Bàu Sen có hệ sinh thái hết sức đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm như: bời lời, dầu nước, sao mây, các cây họ tre; các loài thuỷ đặc sản: cá, cua, ốc, lươn… Ngoài giá trị du lịch sinh thái, nơi đây còn được coi là di tích lịch sử với khu căn cứ Bàu Sen nổi tiếng.                                          

Thắng cảnh Suối Tiên  

Đã từ lâu, du khách trong và ngoài nước đều gọi khu du lịch Suối Đá, Suối Tiên là Đà Lạt thứ hai của Việt Nam bởi phong cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời mà tạo hoá đã ban tặng cho nơi này.

Suối Đá, Suối Tiên đều bắt nguồn từ đỉnh núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ chảy men theo các vách núi, sườn đồi hợp thành chảy êm đềm uốn lượn quanh những rừng cây tạo nên những cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, kỳ thú.

Núi Dinh với rất nhiều vách núi đẹp tự nhiên khi nhìn từ xa có hình chú voi khổng lồ nằm chầu về phía biển. Những chùm hoa cương trần trụi, bám đầy địa y xen lẫn rêu phong, có lẽ hàng ngàn năm rồi đá nằm ngủ trong rừng sâu nay bỗng thức giấc, có rất nhiều những tảng đá cao với hình khối sống động: Đây là hai tảng đá đứng gần nhau như hai mẹ con lâu ngày gặp nhau đang ngồi trò truyện, còn kia là cảnh một hòn đá giống chú bé con đang hờn dỗi mẹ, kế đó là cảnh một cụ già đang ngồi trầm tư với con mắt đang thả vào cõi mông lung, xa thẳm…

Dọc theo suối còn có những thạch bàn phẳng lỳ nằm nghiêng nghiêng khá rộng, ở đây có thể ngồi hay nằm nghỉ khi dừng chân, có thể nghe tiếng suối ào ạt tuôn chảy từ đỉnh thác của suối Tiên đổ xuống tạo thành những giếng trời khá sâu nước trong xanh có thể nhìn thấy những hòn sỏi trắng muốt dưới đáy.  Nước chảy xối xả, tung toé, hơi nước hoà vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu. Từ tháng 7 – 8, suối cuộn mình tung bọt trắng xoá để tới tháng 10 khi bắt đầu vào mùa khô dòng suối hiền hoà trở lại. Du lịch suối Đá, nên chuẩn bị giày thể thao và một chiếc gậy nhỏ để đi dọc các bờ và vượt thác, qua đoạn đường gập ghềnh và dốc trơn, và có thể dừng chân nghỉ hoặc tắm ở những giêng nước nhân tạo trong mát.

Từ Suối Đá đến Suối Tiên phải vượt qua 600m đường rừng quanh co. Tương truyền ở nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng và những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời thường xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xưa qúa yêu cảnh sắc nơi đây nên đã đặt cho nó một cái tên thật huyến ảo: Suối Tiên.

Khu thắng cảnh Suối Tiên xứng đáng là địa điểm lý tưởng cho những cuộc tham quan, dã ngoại, tìm về thiên nhiên khiến du khách quên đi những giờ phút làm việc căng thẳng.

Thắng cảnh Dinh Cố 

Tổ đình Thiên Thai     

Bạch Dinh   

Tượng chúa Kitô  

               

 

 

 

Hải Đăng      

Cảng Cầu Đá   

 

 

 

Suối nước nóng Bình Châu  

http://www.baria-vungtau.gov.vn/

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s