Thành Phố Buôn Ma Thuột

Buôn_Ma_Thuột_city_square

photo BMT

Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuật, tiếng Ê Đê: Ƀuôn Ama Thuôt) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên và là một trong số 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam.

Tây Nguyên là nơi trồng và khai thác cao su, là nơi rừng thiêng nước độc, tuy thế Tây Nguyên vẫn tồn tại những gốc sáng của lịch sử thể hiện qua cảnh vật, công trình hay con người của nơi đây đậm chất phong sương

Địa lý

Buôn Ma Thuột ở giữa vùng đông dân nhất Tây Nguyên, độ cao 536 m (1.608 ft). Buôn Ma Thuột cách Hà Nội 1.410 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia.

Tọa độ: 12°41′05″B 108°03′03″Đ / 12.684696,108.050915
Diện tích 377,18 km²
Dân số 2009
 Tổng cộng 331.744
35px-LocationVietnamDakLak Vị trí Buôn Ma Thuột trên bản đồ Việt Nam

Ban do BMT Ngày 27/11/2009 Bộ Chính Trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có kết luận số 60-KL/TW về việc xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên và trực thuộc Trung ương.

Trước năm 2020 Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Cha Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi buôn của Ama Thuột (Ama là Cha; Thuột là tên Con; người Ê Đê khi có con trai, thì họ gọi nhau bằng tên của con trai mình, ở đây A ma Thuột nghĩa là Cha của Thuột và thường gọi là Cha Thuột) – tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Lịch sử

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A Ma Thuột cai quản với các Buôn: Buôn Ako Tam, Buôn Kmrong Prong, Buôn Păn Lăm, Buôn Ako sier, Buôn Ale, Buôn Cư dlue…xuôi theo dòng Êa Tam đổ ra sông mẹ Krông Ana (Srê pôk).

Trên_cao_nguyên_Đắk_Lắk

Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắk Lắk được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn.

Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa thị xã này có tên là Ban Mê Thuột.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến tới việc đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1995, Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 3, năm 2005 là đô thị loại 2 và đến tháng 3 năm 2010 được công nhận là đô thị loại 1.

Diện tích, dân số

Nguoi Minang Kabau tuong tu nhu nguoi EDe o VN

800px-Tháp_Yang_Prong,_Ea_Súp,_Đắk_LắkDiện tích của thành phố khoảng 377 km², trong đó diện tích đã đô thị hóa là 100km2.

Thieu Nhi nguoi EDE

Dân số toàn thành phố là 331.744 với người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15%. Gần 80% dân số sống tại khu vực nội thành.

Hành chính

Buôn Ma Thuột là thành phố đô thị loại 1; có 13 phường, 8 xã. Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố. Kết quả phân định 3 khu vực của thành phố Buôn Ma Thuột theo quyết định số 03/2009/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Đắc Lắc ngày 13/01/2009 như sau :

  • Khu trung tâm, gồm các phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành.
  • Khu cận trung tâm, gồm các phường: Khánh Xuân, Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An;
  • Khu ven nội, gồm các phường, xã: Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân.

 Kinh tế – Xã hội (2011)

Buôn Ma Thuột năm 1975 còn là một thị xã miền núi bé nhỏ, nghèo nàn với vài con đường nhựa quanh Ngã 6 trung tâm, công nghiệp hầu như không có gì. Nay, Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là một điểm mốc lịch sử quan trọng để thành phố tiếp tục phấn đấu, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2015 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ Chính trị. Hiện nay, Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tốt nhất Việt Nam.

Cùng với thành phố Bắc Ninh, Đà Lạt, Hòa Bình, Huế, Thái Nguyên, Sơn La, Vinh, Việt Trì, Hà Nội , Buôn Ma Thuột đã được chọn là 10 đô thị sạch trên cả nước và được tuyên dương trong lễ kỷ niệm Ngày đô thị Việt Nam (8/11).

  • Tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân: 18%
  • Tổng thu ngân sách nhà nước: gần 2.500 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách theo phân cấp: 1.150 tỷ đồng
  • Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội: > 5.000 tỷ đồng
  • Giá trị sản xuất công nghiệp: 2.100 tỷ đồng
  • Thu nhập bình quân đầu người: 1.650 USD/người/năm.
  • Tổng mức bán lẻ hàng hóa doang thu dịch vụ: 13.500 tỷ đồng
  • Tỷ trọng các ngành: 44% công nghiệp-xây dựng, 47% thương mại-dịch vụ, 9% nông-lâm nghiệp.
  • Giao thông: 98% đường nội thành được nhựa hóa, là đầu mối giao thông cấp vùng và quốc gia.
  • Tỷ lệ hộ nghèo: 1.5%
  • Tỷ lệ cây xanh đô thị: 18m²/người
  • Cấp điện: 100% đường phố chính và 80% đường hẻm đã được chiếu sáng
  • Cấp-thoát nước: 80% dân số được dùng nước sạch với định mức 137 lít/người/ngày. Ngoài ra Buôn Ma Thuột có hệ thống xử lí nước thải do Đan Mạch tài trợ được đánh giá tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay mà chưa có thành phố nào ở Việt Nam đạt được.
  • Văn hóa-giáo dục: đã có 21/21 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Bình quân cứ 2,5 người thì có 1 người đi học.
  • Y tế: 21/21 xã, phường đã có y, bác sĩ túc trực. Tuổi thọ bình quân: 70 tuổi.
  • Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,3%
  • Thông tin liên lạc: 124 máy điện thoại/100 dân (vượt chuẩn đô thị loại 1 là 40 máy/100 dân).

Văn hóa

Kho Tàng Văn Hóa Phi Vật Thể Tây Nguyên

Nói đến văn hóa Tây Nguyên và các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên là phải nói đến không gian văn hóa cồng chiêng. Cồng chiêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Con người từ khi sinh ra đã nghe tiếng chiêng trong lễ đặt tên, lễ thổi tai; đến khi lìa đời về với thế giới của các vị thần linh, tiếng chiêng ngân dài tiễn biệt trong lễ bỏ mả. Thông qua tiếng chiêng, các tộc người Tây Nguyên như gửi gắm tâm hồn mình, ước nguyện của mình với các đấng thần linh, tiếng chiêng thực sự đã gắn với đời sống của dân tộc, gắn với tâm linh của mỗi người. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được thể hiện qua ngôn ngữ, phong cách diễn tấu, tài bản… riêng biệt và độc đáo, chính vì thế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Loại hình văn học dân gian truyền miệng cũng là di sản văn hóa phi vật thể phong phú của các dân tộc Tây Nguyên, trong đó sử thi, trường ca là đại diện tiêu biểu nhất. Sử thi có mặt hầu hết ở các tộc người nơi đây, dân tộc Êđê gọi là khan, M’nông là ot ndrong, Bana là h’mon… Sử thi Tây Nguyên được tập trung nghiên cứu, sưu tầm nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ với Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên mà Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận như Bình Phước, Khành Hòa, Phú Yên thực hiện trong nhiều năm qua. Nhờ đó, chúng ta đã sưu tầm được hàng trăm sử thi, xuất bản nhiều sử thi có giá trị, trong đó sử thi của dân tộc M’nông chiếm số lượng nhiều nhất. Các loại hình văn học dân gian khác của đồng bào Tây Nguyên như lời nói vần, thần thoại, truyện cổ… cũng được sưu tầm, biên soạn và xuất bản.

Tượng gỗ dân gian Tây Nguyên, chủ yếu là tượng nhà mồ một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân bản địa. Dù mang nhiều dáng vẻ nhưng chúng gặp nhau ở một điểm là đều lấy cảm hứng từ đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và đời sống tâm linh gắn với phong tục tập quán của mỗi tộc người. Các dân tộc sinh sống ở tỉnh Gia Lai như Bana, Giarai là những tộc người có năng khiếu đặc biệt về điêu khắc gỗ, trình độ nghệ thuật tạo hình, trang trí rất phát triển. Những rừng tượng nhà mồ đã từng tồn tại làm nên dấu ấn đặc biệt trong nghệ thuật điêu khắc, thể hiện sự tài hoa, truyền thống nhân văn của các tộc người Tây Nguyên.

Ngoài những giá trị tiêu biểu nêu trên, Tây Nguyên còn có kho tàng di sản văn hóa phi vật thể khác, đó là kiến trúc nhà làng truyền thống như nhà rông, nhà ưng… của các dân tộc Bắc Tây Nguyên, kiến trúc nhà dài của dân tộc Êđê; nghề dệt và trang phục, tri thức dân gian, ẩm thực, nghệ thuật diễn xướng, lễ hội. Đồng bào Tây Nguyên có nhiều hình thức lễ hội liên quan đến chu kỳ canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời người; lễ hội cộng đồng…

Trong lễ nghi nông nghiệp, đáng chú ý nhất là lễ ăn mừng lúa mới, lễ cúng hồn lúa, mẹ lúa. Lễ hội cộng đồng phải kể đến lễ kết nghĩa, lễ mừng nhà rông mới…

Buôn_Ma_Thuột_city_square

Ngã 6 Ban Mê

Ngã 6 Ban Mê là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi như biểu tượng của thành phố.

Trước đây, khi mới giải phóng nơi đây chỉ là một bùng binh đầy cỏ dại với một cột đèn ba ngọn và vài tấm áp phích. Sau này một tượng đài được dựng lên với điểm nhấn chính chiếc xe tăng bằng sắt thép đã mở đầu trận đánh vào Buôn Ma Thuột. Đến những năm cuối thế kỷ trước thì tượng đài chiến thắng đã được xây dựng hòang tráng như hiện nay. Nơi đây từng có một chiếc xe tăng T-34 của Nga nhưng nó được đưa vào bảo tàng năm 1997 và thay thế vào đó là một chiếc xe mô hình.

Ngã sáu Ban mê đã đi vào thơ ca qua nhiều bài hát đi cùng năm tháng và giờ đây nó chính là một trong những địa chỉ mà du khách rất yêu thích, thường tìm đến để chụp ảnh kỷ niệm cho chuyến đi Đắk Lắk của mình.

cay Ko Nia Cây Kơnia cổ thụ

Cây Kơnia, hay còn gọi là Cốc, Cầy, là một loài cây thân gỗ lớn, cao 15–30 m, đường kính 40–60 cm, tên khoa học là Irvingia malayana, thuộc họ Irvingiaceae. Loài cây này mang ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, họ coi chúng là nơi trú ngụ của thần thánh, của vong linh những người đã khuất, rất ít khi họ đụng chạm đến chúng, chặt phá chúng; vì vậy trên nương rẫy của đồng bào thường có các cây Kơ nia cổ thụ được sử dụng như cây che mát mỗi lúc nghỉ giải lao, nghỉ trưa. Do bài hát Bóng cây Kơ-nia nổi tiếng vì vậy du khách khi đến Buôn Ma Thuột luôn muốn tìm xem tận mắt cây Kơ Nia. Ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có một cây Kơ nia cổ thụ nằm trong khuôn viên sân sau nhà văn hóa trung tâm tỉnh, cách ngã 6 Ban Mê vài trăm mét.

Bài thơ Bóng cây Kơ-nia được sáng tác trong những năm 1957-1958 (theo nhà văn Nguyên Ngọc) lúc tác giả đang làm việc tại Ban Văn Sử Địa Trung ương. Bài thơ được in trong tập thơ Tiếng hát miền Nam do Nhà xuất bản Văn học in năm 1959. Bài thơ được phỏng dịch theo điệuKachoi của dân ca Hrê. Nguyên văn bài thơ:

Trời sáng em lên rẫy
Thấy bóng cây Kơ nia
Bóng ngả che ngực em
Về nhớ anh, không ngủ…
Buổi chiều mẹ lên rẫy
Thấy bóng cây Kơ nia
Bóng tròn che lưng mẹ
Về nhớ anh mẹ khóc…
Em hỏi cây Kơ nia:
– Gió mày thổi về đâu?
– Về phương mặt trời mọc,
Mẹ hỏi cây Kơ nia:
– Rễ mày uống nước đâu?
– Uống nước nguồn miền Bắc.
Con giun sống nhờ đất
Chim phí sống nhờ rừng
Em và mẹ nhớ anh
Uống theo nguồn miền Bắc
Như bóng cây Kơ nia
Như gió cây Kơ nia.

Thủ Phủ Cà Phê

Tuy cây cà phê đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (1870) nhưng được trồng đại trà ở Đắk Lắk chỉ từ những năm sau 1930 trong những đồn điền của những nhà tư bản Pháp như CADA, … nhưng do vùng đất đất đỏ bazal này đặc biệt phù hợp với việc canh tác cà phê nên việc phát triển diện tích trồng ở đây đã tăng lên; hiện tại, theo số liệu thống kê, Đắk Lắk có đến hơn 175.000 ha cà phê (thực tế có đến trên 200.000 ha vì một số diện tích không được tính do không trong quy hoạch). Đắk Lắk cũng chính là nơi được xem là nơi có năng suất cà phê thu hoạch cao nhất thế giới và góp phần chính trong việc đưa sản lượng cà phê Việt Nam lên vị trí số 2 (riêng cà phê robusta chiếm vị trí số 1) của những quốc gia xuất khẩu cà phê. Ở Đắk Lắk gần như huyện nào cũng có trồng cà phê, nhưng cà phê Buôn Ma Thuột vẫn luôn được đánh giá là có chất lượng cao nhất và có hương vị đặc trưng nhất, chính vì vậy thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột được thế giới biết đến và địa danh Buôn Ma Thuột được nhiều người ví như “thủ phủ cà phê”.

Ở Đắk Lắk hiện tại, một số vấn đề liên quan đến cà phê đã trở bản sắc văn hóa như việc mời đi uống cà phê đã là một nét văn hóa đặc trưng của vùng này. Mời đi uống cà phê là một nét văn hóa rất đặc trưng của thành phố Buôn Ma Thuột.

Mời Đi Uống Cà Phê

A_small_cup_of_coffee Ở Đắk Lắk, việc đi uống cà phê đã trở thành một trào lưu, một phong cách sống. Việc đi uống cà phê đối với nhiều người ở đây cũng quan trọng giống như ăn cơm, uống nước hàng ngày. Vì vậy, ở đây câu nói đi uống cà phê đã trở thành câu nói cửa miệng, thay vì mời đi uống nước, giải khát người ta lại nói là đi uống cà phê. Chỉ riêng ở Buôn Ma Thuột, hiện tại quán cà phê nhiều đến nỗi nếu mỗi ngày chỉ cần vào một quán thôi cũng mất cả năm mới đi giáp một vòng. Các quán cà phê ở đây hầu hết được xây dựng rất đẹp, cầu kỳ và có phong cách riêng để thu hút khách. Đặc biệt ,nơi đây có một loại cà phê mà đã trở thành huyền thoại,dó là “Cà phê phân chồn”,nói đến ai cũng nghĩ đến… nhưng thực chất không phải như vậy , cà phê phân chồn là loại cà phế được chế biên từ những hạt cà phê chín mọng sau khi con chồn ăn chúng,chỉ riêng công đoạn chế biên thôi cũng đủ cho ta thấy nó đặc biệt như thế nào.Mùi vị của chúng đã làm ngất ngây bao nhiêu khách du lịch khi đến đây.

Lễ Hội Cà Phê 

lễ hội cà phê buôn ma thuột  Chương trình lễ hội đường phố trong khuôn khổ lễ hội cà phê năm 2011

Hội Cà Phê Buôn Ma Thuột, hay Buôn Ma Thuột cà phê Festival, là một lễ hội được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk, đây là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên. Nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây và chiếm đến 60& sản lượng cà phê của Việt Nam, loài cây đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng cao này. Lễ hội mới chỉ bắt đầu được tổ chức từ năm 2005 trong chương trình quảng bá hình ảnh Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột. Bên cạnh các hoạt động trao đổi về, quy trình, các thức, sản xuất, chế biến cà phê. Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Hình thức giao dịch trực tuyến với thị trường thế giới.

Buôn AKô Đhông

Buôn AKô Đhông hay Buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk. AKô Đhông theo tiếng Ê Đê có nghĩa là buôn đầu nguồn vì nó ở đầu nguồn một con suối lớn ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl. Ở đây nguồn suối bắt đầu cũng chính là bến nước cũ của buôn, một bến nước rất đẹp nhưng hiện tại không còn được sử dụng do bị ô nhiễm vì ở ngay trung tâm thành phố.

Buôn nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật- thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một buôn lớn có lịch sử lâu đời được quy hoạch rất đẹp và giữ được nhiều giá trị truyền thống , dấu ấn đậm nét Malayo ( Nam Đảo) thể hiện qua các kiến trúc nhà dài xếp dọc hai bên trục lộ , nhìn từ xa dáng dấp của những con thuyền với các mái nhà như con sóng biển, hiện tại là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố. Nằm trong quy hoạch khu trưng bày lịch sử của Buôn Ma Thuột.

Giao Thông

Đường Bộ

Quốc_lộ_27,_đoạn_qua_Lâm_Hà,_Lâm_Đồng

300px-Quốc_lộ_26,_đoạn_Krông_Pắc

Quốc_lộ_14,_đoạn_Pleiku-Buôn_Ma_Thuột (1)

  • Đường bộ toàn tỉnh hiện có 397,5 km đường quốc lộ, trong đó:
  • Quốc lộ 14 nối về phía phía bắc    đi Pleiku (195 km), đi Kon Tum (244 km), nối với Đà Nẵng, về phía nam đi ĐăkNông, Bình Phước, Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh (350 km).
  • Quốc lộ 26 đi Ninh Hòa, Nha Trang (198 km).
  • Quốc lộ 27 đi Đà Lạt (193 km).
  • Quốc lộ 14C: từ ranh giới tỉnh Gia Lai đến ranh giới tỉnh Đăk Nông(68,5 km).
  • Quốc lộ 29: Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã đề nghị Bộ GT-VT chuyển 2 tuyến đường ĐT645 (Phú Yên) và ĐT633 (Đắk Lắk) thành quốc lộ (QL) 29. Tuyến ĐT645 xuất phát từ QL1A qua các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa và Sông Hinh (Phú Yên) lưu thông với ĐT633 (Đắk Lắk). Nếu đây trở thành QL 29 sẽ là QL thứ 2 nối các tỉnh Tây Nguyên (280 km)
  • Dự kiến quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có 3 bến xe khách, 1 bến xe buýt ở trung tâm thành phố, hình thành mạng lưới các điểm đỗ xe buýt nội thị và đến các điểm ven đô, các huyện lân cận, 3 bãi đỗ xe tải các bãi đỗ xe con, xe du lịch ở những nơi tham quan, du lịch, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, chợ. Tại ở mỗi thị xã, mỗi huyện có từ 1- 2 bến xe khách

Đường Hàng Không

Sân_bay_Buôn_Ma_Thuột

Nhà_ga_sân_bay_BMT800px-Máy_bay_của_Airmekong_và_VNA_tại_sân_bay_BMT Sân bay Buôn Ma Thuột (mã sân bay IATA: BMV, mã sân bay ICAO: VVBM) là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự tại thành phố Buôn Ma Thuột. Sân bay có đường băng dài 3000 m, rộng 45 m có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72, F70, tầm trung như A320, A321, B767 và có đèn chiếu sáng phục vụ bay đêm, trong khi đó công suất thiết kế nhà ga 1.000.000 lượt hành khách/năm. Đến năm 2010 phục vụ 300.000 hành khách/năm (năm 2020 là 800.000) và 3.000 tấn hàng hóa/năm. Các tuyến bay gồm có:

  • Buôn Ma Thuột – Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Buôn Ma Thuột – Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Đà Nẵng
  • Buôn Ma Thuột – Sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội
  • Buôn Ma Thuột – Sân bay Vinh, Nghệ An

Với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng, nhà ga hành khách Cảng Hàng không Buôn Ma Thuật chính thức được khánh thành sáng nay (24/12). Nhà ga mới có công suất đáp ứng đến năm 2020 là 1 triệu hành khách/năm. Cảng hàng không Buôn Ma Thuột nằm tại địa bàn xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắc) – là một trong 8 cảng hàng không địa phương trực thuộc Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam. Việc mở rộng nâng cấp cảng hàng không Buôn Ma Thuột là dự án cần thiết góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung. Đồng thời, đây cũng là một trong các dự án nằm trong chiến lược nâng cấp, hiện đại hóa các Cảng hàng không địa phương trực thuộc Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam.

 Nhà ga mới Cảng Hàng không Buôn Ma Thuật Theo Quy hoạch Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột giai đoạn 2015, định hướng đến năm 2025 đã được Bộ GTVT phê duyệt, ngày 22/01/2010 Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam đã khởi công công trình xây dựng Nhà ga hành khách và mở rộng sân đậu máy bay Cảng hàng không Buôn Ma Thuột với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng.

Nhằm đáp ứng đến năm 2020, công suất phục vụ của nhà ga hành khách mới Buôn Ma Thuột được thiết kế là 1 triệu HK/năm, quy mô bao gồm: một tầng trệt và một tầng lửng, với tổng diện tích sàn 7.175 m2, đáp ứng 4 chuyến bay giờ cao điểm (02 chuyến đến và 02 chuyến đi) với loại máy bay A321 trở xuống; Ngoài ra còn có các công trình tiện ích phụ trợ như trạm cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc, xử lý nước thải, sân đậu ô tô…

Xuất phát từ thực tế nhu cầu sinh hoạt cộng đồng rất cao của người Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc Tây nguyên, nhà ga hành khách Cảng hàng không Buôn Ma Thuột có không gian kiến trúc lớn, hiện đại, nhưng hài hòa với đặc thù văn hóa vùng miền. Nhà ga hành khách được thiết kế sử dụng 1,5 cao trình (một cao trình rưỡi).

Tầng trệt được bố trí cho quy trình khách đến, khách đi bao gồm: sảnh làm thủ tục lên máy bay, khu soi chiếu an ninh, khu vực xếp dỡ hành lý; sảnh nhận hành lý, khu bán hàng, khu đợi VIP, trung tâm vận hành và quản lý, không gian lưu thông, hành lang đón và khởi hành… Tầng lửng gồm: khu tập trung khởi hành, khu phòng chờ, khu M&E, khu bán hàng, không gian lưu thông…

Quy trình khai thác đảm bảo phục vụ an toàn và tiện lợi cho các chuyến bay đi/đến Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột. Cảng hàng không Buôn Ma Thuột thuộc: hạng sân bay 4C, theo tiêu chuẩn của tổ chức HKDD thế giới ICAO.

Nhà ga hành khách: 7.175m2 với 4 cửa ra máy bay; 9 cửa check – in; 2 băng chuyền; 2 máy chiếu an ninh… Hệ thống ngăn chặn tấn công khủng bố, hệ thống chữa cháy tự động, máy soi chiếu an ninh, nguồn điện liên tục 24/24, dịch vụ y tế, cấp cứu y tế 24/7. Hệ thống đường liền kề nhà ga dành cho 3 làn xe, sân vườn, bãi đậu xe, công viên cây xanh.

Được biết, trong các năm qua lưu lượng hành khách thông qua cảng hàng không Buôn Ma Thuột tăng trưởng nhanh ở mức trung bình 40%/năm. Trong 10 tháng đầu năm 2011, sản lượng hành khách tăng 54,4% so với cùng kỳ 2010. Kế hoạch trong năm 2012 Cảng hàng không Buôn Ma Thuột ước tính phục vụ khoảng hơn 400.000 hành khách.

Khi nhà ga mới được đưa vào sử dụng, công suất nhà ga mới được tính toán đáp ứng đến năm 2020 với công suất là 1 triệu hành khách/năm. Vào giờ cao điểm nhà ga sẽ phục vụ 4 chuyến bay với số hành khách lên đến khoảng 400 người.

Trong tương lai, cảng hàng không Buôn Ma Thuột sẽ phát triển các tuyến giao thông đường hàng không nối khu vực này với miền Nam, miền Bắc và các nước trong khu vực. Đây là một yêu cầu và là một động lực mới để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cũng như khai thác hơn nữa tiềm lực của thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung

Đường Sắt

Dự án tuyến đường sắt Tuy Hòa – Buôn Ma Thuột đã được Xí nghiệp Tư vấn thiết kế công trình giao thông sắt bộ thuộc Công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam xây dựng hoàn chỉnh. Toàn tuyến đường sắt có chiều dài 160 km, đi qua 8 ga, xuất phát từ ga Phú Hiệp và điểm cuối là ga Buôn Ma Thuột.

Theo tính toán, Buôn Ma Thuột là trung tâm của hệ thống đường sắt Tây nguyên trong tương lai; ga đầu mối nối các tuyến đi Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông và Lâm Đồng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế và quốc phòng khu vực Tây nguyên rộng lớn.

Tuyến đường sắt này cũng mở ra cơ hội lớn cho vùng Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và một phần Thái Lan gần hơn với biển. “Địa lý kinh tế của Phú Yên gắn liền với các tỉnh Tây nguyên, hành lang kinh tế Đông Tây và các nước ASEAN, nối thông ra biển và có khả năng phát triển về đường biển.

Danh Lam Thắng Cảnh

Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như:

  • Đình Lạc Giao.

Dinh Lac Giao

  • Chùa Khải Đoan

Chua Sac Tu Khaidoan

Khai_doan_pagoda

Chùa Sắc tứ Khải Đoan: Chùa Khải Đoan (Khải Đoan Tự) nằm ở Trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh DakLak). Trung bộ thuộc địa phận Phường Thống Nhất. Tên chùa ‘Khải Đoan’ được ghép bởi hai từ đầu của vua Khải Định và vợ ông là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu.

Chùa Khải Đoàn bắt đầu xây dựng từ năm 1951 với hai phần hậu tổ và nhà giảng, còn chính điện thì đến năm 1953 mới khởi công. Người có công lớn trong việc xây chùa này là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (vợ vua Khải Định) và chính bà đã đặt tên cho chùa này là ‘Khải Đoan Tự’.

Chùa được xây dựng bởi những bàn tay khéo léo của những người thợ cố đô Huế nên có kiến trúc nhà rường Huế xen lẫn với kiến trúc địa phương. Cổng chính theo hướng Tây Nam nhìn ra đường Quang Trung, hướng về thung lũng ‘Suối Đốc Học’. Trước và sau cổng đều ghi ‘Khải Đoan Tự’. Chánh điện là công trình chính của chùa với mặt bằng 320m2 được chia làm hai phần. Nửa phần trước mang dáng dấp nhà dài Tây Nguyên nhưng cấu trúc cột kèo theo kiểu nhà rường Huế. Nửa sau được xây theo lối hiện đại. Đáng chú ý nhất trong chánh điện là tượng Phật Thích Ca ở giữa và chiếc chuông đồng đặt ở gian bên phải. Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,1m, đài sen bằng gỗ cao 0,35m được trang trí công phu, chiếc chuông đồng cao 1,15m, chu vi đáy 2,7m, nặng 380Kg được đúc tháng 01.1954 (tức tháng chạp năm Quý Tỵ).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Khải Đoan là nơi có phong trào Phật giáo yêu nước đấu tranh đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc. Chùa còn là nơi đùm bọc, che chở cho nhiều quần chúng cách mạng hoạt động, chùa khải đoan chính là nơi nổ ra các cuộc đấu tranh chính trị góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tháng 09.1959 gần 7.000 Phật tử đã tổ chức một cuộc biểu tình tại chùa Khải Đoan đòi Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp định Giơ -Ne-Vơ.

Tháng 07.1963, Đại Đức Thích Quảng Hương (chánh đại diện Phật giáo DakLak kiêm trụ trì chùa Khải Đoan) phát nguyện tự thiêu đúng vào lúc phái đoàn quốc tế đến thị sát tình hình, làm cho cuộc đấu tranh của Phật giáo DakLak bùng lên quyết liệt. Sáng 30.01.1968 (tức mồng một Tết Mậu Thân) gần 7.000 quần chúng Thị xã BuônMaThuột tập trung tại chùa Khải Đoan nghe tuyên truyền về chính sách mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó tuần hành trên đường phố. Cùng với Biệt Điện Bảo Đại, Đình Lạc Giao, Nhà đày Buôn Ma Thuột, chùa Khải Đoan là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn đồng thời cũng là di tích lịch sử văn hóa của tỉnh DakLak và của Thành phố Buôn Ma Thuột.

  • Hồ Lắk nằm trên tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuột và Ðà Lạt, cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 56 km về phía nam theo quốc lộ 27, qua đèo Lạc Thiện khoảng 10 km đến thị trấn Lạc Thiện rẽ tay phải vài trăm mét đã thấy ngôi nghà nghỉ mát của cựu hoàng đế Bảo Ðại ngày xưa. Ðây là nơi ông thường đến ngắm cảnh, săn bắn, nghỉ ngơi mỗi khi có dịp lên thành phố Buôn Ma Thuột. Ngôi nhà nằm trên đỉnh đồi cao nhìn ra mặt nước của hồ Lắk.

Hồ Lắk dài uốn khúc hệt như một dải lụa thiên thanh bao quanh thị trấn Lạc Thiện. Hồ rộng trên 500 ha, được thông với con sông Kơ Rông Ana. Mặt hồ luôn xanh thắm in bóng rừng thông trên các ngọn đồi ven hồ. Xung quanh hồ là các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.

Về mùa mưa, hàng trăm con suối, ngọn thác đổ nước về làm cho mặt hồ rộng thêm, sóng cồn lên như biển và dâng ngập hết cả các cánh đồng cỏ xung quanh. Ra xa, nước sâu hơn là nơi ngự trị của các loài sen, súng. Sen ở hồ Lắk đẹp, che kín một dải dài trên mặt nước làm cho cảnh hồ thêm thơ mộng.

Hồ Lắk là một thắng cảnh đẹp của vùng Tây Nguyên. Hồ vừa là nơi cung cấp nhiều cá, vừa là hồ chứa nước ngọt khổng lồ cung cấp nước cho hàng trăm ha ruộng nương, đồng thời còn làm cho khí hậu ở đây thêm phần mát hơn.

Bên Hồ Lắk có bản Jun, một buôn làng tiêu biểu của dân tộc M’nông. Ðến đây du khách có dịp ngao du trên lưng voi để ngắm buôn làng, tham quan núi rừng Tây Nguyên. Nếu nghỉ qua đêm sẽ được thưởng thức văn nghệ cồng chiêng của người M’nông.

  • Biệt Điện Bảo Đại hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk

Biệt Ðiện Bảo Ðại tọa lạc ngay trung tâm Buôn Ma Thuột, trong khuôn viên thoáng rộng và rợp bóng cổ thụ. Từng là nhà ở của công sứ Pháp, sau là nơi ở và làm việc của vua bảo Ðại.

Năm 1940 ngôi nhà được xây dựng lại theo lối kiến trúc Tây Nguyên kết hợp hiện đại. Mái ngói, sàn gỗ, phía dưới là tầng hầm bê tông. Khung cảnh yên ả , với cây xanh và hương hoa, những cây cổ thụ vươn cánh tay khổng lồ làm bóng mát, quanh năm có tiếng lảnh lót của những chú chim.

Ngày nay, Biệt Ðiện trở thành di tích lịch sử, bảo tàng trưng bày hiện vật lịch sử văn hóa các dân tộc Ðak Lắk. Nơi đây từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử. Cảnh thiên nhiên vẫn mang bóng dáng của ngàn xưa đã góp phần làm cho Biệt Ðiện mang đậm nét lịch sử của mảnh đất cao nguyên đầy huyền thoại.

(Nguồn: Theo daktra.com.vn)

  • Nhà đày Buôn Ma Thuột: 

Cách đây hơn 50 năm là những cánh rừng hoang vu, mênh mông phủ kín, dân cư thưa thớt, nơi đây xưa kia được coi là chốn rừng thiêng nước độc, người đồng bằng ít dám mơ tưởng đặt chân lên chốn này. Cũng cùng thời gian ấy, ở đây đã có một nhà đày (một trong những khu biệt giam tù chính trị) với chế độ tàn bạo nhất của bọn thực dân Pháp ở nước ta. Khu di tích lịch sử cách mạng nhà Đày Buôn Ma Thuột đã được Nhà nước xếp hạng này.

Nhà đày Buôn Ma Thuột có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc vận động cách mạng Tháng Tám ở DakLak. Những chiến sĩ cộng sản bị địch giam cầm ở đây đã trở thành những người gieo hạt mầm cách mạng vào mảnh đất Cao nguyên đất đỏ này.

Được mở rộng và xây dựng kiên cố thêm trên cơ sở của một Prison (nhà lao) có từ năm 1900 đến năm 1930 nhà lao Buôn Ma Thuột trở thành nơi đày ải những chiến sĩ yêu nước Việt Nam. Giờ đây, đến thăm nhà lao Buôn Ma Thuột, các bạn sẽ nhìn thấy những chứng tích tội ác của bọn thực dân Pháp. Qua đó, bạn có thể hình dung lại toàn bộ nhà đày Buôn Ma Thuột với chế độ cai trị khắc nghiệt và tàn bạo chẳng khác nào địa ngục của bọn thực dân Pháp.
(Nguồn: Theo daktra.com.vn)

Tháp Chăm Yang Prong

Là tháp Chàm duy nhất ở Tây Nguyên , thuộc huyện Ea Súp cách Buôn Ma Thuột 100 km. Xây dựng vào cuối thế kỷ XIII để thờ thần Siva dưới dạng Mukhalinga, cầu mong sự nảy nở của giống nòi,và ấm no hạnh phúc.Tháp Yang Prong là một khối kiến trúc bằng gạch nung đỏ trên nền cao bằng đá xanh , uy nghi bên dòng Ea H’leo.

Tháp cao 9m, có đáy vuông, mỗi mặt tường ngoài là 3 cửa giả, một cửa duy nhất mở về hướng Ðông , nơi ngự trị của các vị thần linh. Phía trên mở rộng và thon vút hình tháp bút, khác biệt với kiến trúc của các tháp Chàm khác ở Trung Bộ . Ðến thăm tháp Yang Prong bạn sẽ cảm nhận một nét độc đáo, hiếm thấy. Hiện nay đây là điểm thu hút nhiều nhà nghiên cứu và khách du lịch khi đến với cao nguyên.

(Nguồn: Theo daktra.com.vn)

Hồ_Đăk_Min

Hồ_Đăk_Min,_mũi_Hảo_Vọng

Mot ben nuoc o BMT

Quangtruongbuonmathuot

Du khách cũng có thể đến với làng văn hóa buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê…

Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp…


Bách Khoa Toàn Thư: http://vi.wikipedia.org/wiki/Bu%C3%B4n_Ma_Thu%E1%BB%99t

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s